Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013
hànội 40 năm xa... / thế phong
hànội 40 năm xa ...- thế phong-
nxb thanh niên, hànội 1999 .
hànội 40 năm xa...
bút ký : thế phong
-nhớ KIỀU LIÊN SƠN ( 1936 - 2006 )
+ BĂNG SƠN ( 1932- 2010)+ NGUYỄN ĐĂNG KHẢI ( 1936- 2006)
- riêng tặng Đ.N.OANH ( 1935 - ) đầy tình thương nhớ !
------------------------------------------- THẾPHONG - Sept, 13. 2013.
ngày 4 tháng 10 năm 199...
4
Sáng hôm nay được rảnh rang đến 9 giờ 30, đảo quanh Hànội và tới nhận mấy tấm ảnh chụp ở chùa Trấn quốc bữa nào. Và còn muốn ngắm cảnh xưa chốn cũ. Nơi đây, xưa kia, tôi đến với sách vớ, hoặc hành, bởi nơi này là chốn yên tĩnh, đôi khi còn hẹn hò với cô Oanh, bạn nữ sinh cùng lớp. Nàng từ nhà ở Quần Ngựa tới đây cũng không mấy xa.
khi đó, tôi sống nhờ nơi cô ruột , tính tình bà rất khó - hẳn chùa còn là nơi dung thân cho mối tình êm ái tuổi học trò. Không còn nhớ rõ lắm, nhưng Kiều Liên Sơn ( KLS )xưa kia từng đeo đuổi Oanh đen , cô gái rất giỏi sinh ngữ Pháp- so với tôi - kẻ tám lạng, người nửa cân.
Ngay tối đầu tiên tới Hànội, KLS chở tôi qua phố Đội Cấn- nó lấy tay chỉ khoảng này ' nhà Oanh đen đấy!'. Tôi im lặng, nhưng lòng rất xúc động. Chùa Trấn quốc hôm nay khác nhiều, lẽ hiển nhiên, đường vào chùa xây kè đá moellon, hàng cây cau rừng tô điểm càng tăng vẻ thơ mộng. Sư cụ trụ trì mới tinh dưới mắt tôi lạ lẫm là lẽ đương nhiên - bới, sư cụ trụ trì năm 1954 đã di cư vào Nam, xây dựng chùa mới lấy tên Trấn quốc, trên đường Minh Mạng, Saigon 10. Nhận ra ngay tân hòa thượng trụ trì, bởi, tôi đã nghe ông đọc huấn dụ gì đó vào ngày giải phóng thủ đô , và chân dung ảnh không mấy khác ngoài đời thường.
Nhớ lại chiều qua, gặp giáo sư Hoàng như Mai ( 1918- ) sau khi ông đã đọc Nhận diện vóc dáng Nguyễn đức Quỳnh*, bèn tâm sư :
-----
* Đại Nam văn hiến xb, Saigon 1962, tái bản 1964.
" ... ông Quỳnh không những là thày dạy histoire-géo ( sử ký+ địa lý) ở Louis Pasteur, mà thày tôi còn là lãnh tụ nhóm Hàn Thuyên thần tượng của tôi kia đấy ..."
giọng nói ỡm ờ, nửa đùa, nửa thật :
" ... đọc sách anh viết tôi rất thú, nhưng in chữ nhỏ quá! Có nên chăng, ta in chung 1 cuốn sách về thày Nguyễn đức Quỳnh - anh viết về thày từ sau 1945, còn tôi 1945 trở về trước, có lẽ hay đấy anh ạ.... Chuyện ' Thằng Cu So, Thằng Phượng, Thằng Kình ' hay lắm chứ ! Theo tôi, những cuốn này tái bản rất hữu ích ..."
Nữ văn sĩ Lý Lan ( 1957 - ) trách khéo , ý là, sau buổi họp, không tìm thấy tôi. " Có gì đâu, cứ chở tôi ở phía sau, trên cái yên xe chở em bé ấy " ! - đáp:" .. thú thực là tôi cố ý trốn đấy Lý Lan ạ ".
một nữ văn sĩ khác, Ngô thị Kim Cúc ( 1950- ) nghe xong, có nụ cười rất hóm hỉnh, + khóe mắt nhìn + thêm lời bông phèng rất độc địa! Lý Lan còn thêm lời: chở nhau trên xe đạp, chụp chung một tấm ảnh kỷ niệm ra thăm thủ đô cũng thú vị đấy!
các vị ấy không phải lần đầu đến Hànội, chỉ riêng tôi , sau 40 năm mới tái hồi. Lý Lan rủ đi thăm chùa Trấn quốc, bởi cô đã được nghe: tương truyền kể lại chùa này thuộc lọai cổ kính bậc nhất, được xây dựng từ đời Lý Nam Đế * - không thăm nơi này thật uổng !
------
* vào những năm 544 đến 548.
cô nàng nháy mắt, lấy tay chỉ vào chiếc xe đạp đã bỏ yên sau; thế nào cũng chở Lý Lan đi bờ Hờ ăn kem, mà ngày xửa ngày xưa có câu:
Mình ơi có đi bờ Hồ
cùng ta chén kem kẹo dừa
CA DAO
Nhìn chiếc đồng hồ đã tới giờ, sáng nay, theo chương trình; nhà văn Olivier Rolin đến trụ sở Nxb Văn học , vừa gặp gỡ dịch giả chuyển ngữ tiếng việt Port Sudan , vừa ra mắt phát hành.
tôi vẫn là người đến sớm nhất , khách chưa thấy ai, chỉ có giám đốc Lữ huy Nguyên đang trò chuyện với thi sĩ Vân Long. Tôi nói với giám đốc nhà xuất bản : năm 1994, vào Saigon , ông đã gặp người làm sách tư nhân Trần nhật Thu ( 1945- 2008) và ông đồng ý cấp phép xuất bản tập thơ Nếu anh có em là vợ / Thế Phong, Gần 1 năm trôi qua, chưa nhận được giấy phép, ông thử xem lại ra sao, nếu không cấp phép được ,xin được hoàn trả bản thảo.
ông Lữ huy Nguyên cởi mở, thân thiện, mở tủ kính, lục lấy ra hồ sơ, rồi hỏi tôi đưa bản thảo vào khoảng tháng mấy năm ngoái ? Nhớ mài mại ,đâu đó vào tháng 11 năm 1994 , ông lật qua năm 1993, 1994, đã thấy rồi, trả lời :
" đúng 10 giờ đêm ngày 5 tháng 10 gọi điện thoại nhà cho tôi, sẽ trả lời ngay."
ghi số điện thoại nhà, thì lúc này, cô Đỗ thị Nguyệt và tùy viên báo chí Pháp, Robert Lacombe vừa xịch tới. Dịch giả bàn việt ngữ tiểu thuyết Port Sudan khá trẻ, hàm râu quai nón viền quanh mép, dáng người lùn , khen tác giả viết độc đáo, tiểu thuyết dài vậy mà không có một lời đối thoại nào. Dịch giả kia còn nhấn mạnh: không phải chỉ một Port Sudan, mấy cuốn khác cũng không có câu đối thoại nào.
tác giả Rolin bắt đầu ký tặng một số sách- giữa lúc này Đỗ phương Quỳnh cặp kè bên dịch giả,. giáo sư Cao xuân Hạo có mặt ngoài cửa.
quay sang nói chuyện với tôi, Ý Nhi từ Paris điện về có hỏi thăm tôi, nói gọn thôi; tiền trả điện thoại viễn liên Paris- Hànội đắt lắm. Cảm động đấy chứ ! Phương Quỳnh cho biết thêm; Alliance Francaise đưa danh sách những người được mời ra Hànội, ý là họ hỏi có ý kiến gì đối với Thế Phong không ? - ' Em ủng hộ anh hết mình !'
thốt lời cảm ơn Phương Quỳnh thật lòng, không phải xã giao đâu ?
Nhớ lại, cách đây vài năm, trước khi Đỗ phương Quỳnh vào Sài Gòn, ở nhà Ý Nhi, và từ đấy chúng tôi biết nhau.
lúc này Tô thùy Yên chưa đi H.O., chàng thi sĩ dạt dào tình cảm , chưa được gọi là tác giả thực thụ, vi chưa một tác phẩm nào xuất bản - nhưng gặp người nữ hợp nhãn, anh ta dễ tan lòng* Cũng đúng thôi, từ thế kỷ xa xưa, một nhà văn Pháp cho rằng : sau đàn bà thì văn chương có mới có chỗ đứng lớn ư ?
----
* Prosper Mérimée ( 1803- 1870): ' Après la femme, la littérature avait une grande place .."
đâu đó, tự dưng tới tay tôi bài thơ chàng thi sĩ không tác phẩm, bài thơ có đoạn :
... Cũng có lần anh muốn thâu gom
Cả quá khứ của em, quá khứ của anh
Làm đống lửa dỗ dành
Gọi về hai kẻ lạc loài nơi đồng không ...
Em mới lớn và anh còn rất trẻ
Cũng có lần anh đến ngõ nhà em
Nhưng rồi lại đi luôn
Lang thang rã rời ngoài phố đông người
Không gặp một ai quen
Quán xá bây giờ cũng đổi mộng ...
Cũng có lần anh đứng lại bên đường
Thẫn thờ chờ xe ngớt băng qua
Bất chợt nghe như đời đã muộn
Muộn đến chán chường rũ thõng đôi tay
Tưởng không cái vội nào còn bắt kịp.
Chỗ tối tăm ở phía trước dưới chân đèn
Nỗi ngu muội nằm ngay trong ý thức.
Anh nhìn quanh kinh ngạc lạnh hồn
Mọi người vẫn sống được
Đáng tội cho anh có một cái đầu
thông thống bốn bề
Đành không cô lập nối những u mê
Nên cứ phải lẩn quẩn nỗi ám chướng
Rất nhiều hôm anh đã đi rong
không mấy đỗi đường
Mong rớt bớt dần những thống khổ *
TÔ THÙY YÊN
------
* bài Giã từ II - tạp chí Văn / Mai Thảo chủ trương - số 1 xuất bản ở Hoa Kỳ năm 1995.
thơ hay đấy chứ và như vậy không biết có hình bóng nào của nàng mà tôi đang đối diện nói chuyện buổi nay không ? Quả, chàng ta còn là một tay có hạng núp bóng quần hồng !!!
Olivier Rolin dường như rất kiêu hãnh về văn phong đặc biệt của mình: văn không lời thoại.
tôi nghĩ : chàng này được giải Fémina 1995, hẳn đa số ban giám khảo tán thành lồi viết ấy, sau, mới xét tới nội dung? Một người khác, tôi quên tên, có vẻ tán dương lối viết tác giả Rolin. Quay sang tôi, anh đặt câu hỏi : chắc là tôi cũng tán đồng ý anh đưa ra, và hỏi cảm tưởng ra sao ?
nếu nói là mới , riêng với Rolin thì được, hãy khoan bàn tới nội dung.
Bởi, tôi từng viết một truyện vừa có tựa : Truyện người của tình phụ / Thế Phong * ( 116 trang in, khổ 13 x 18 cm từ năm 1963 : không tiết, không chương, không xuống dòng về cuộc đời lãng mạn ái tình của một nữ văn sĩ nổi tiếng ở miền Nam ). Tất nhiên, có thể thua, là không được giải Fémina và không lời thoại. như tất cả tiểu thuyết của Rolin - và chưa bàn tới nội dung - với tôi - lúc đó viết để thử nghiệm một cách viết khác với điều thường làm mà thôi.
một nhân viên, có thể là thợ chụp ảnh chuyên nghiệp, hoặc, là nhân viên nhà xuất bản - anh ta cầm máy chụp, xoay nghiêng, dọc, ngồi, đứng, hướng ống kính về người này, người kia, nhưng chụp nhiều nhất vẫn là nhà văn Pháp được giải Fémina vừa hút thuốc lá, vừa ký sách tặng. Rolin hút hết điếu này, châm tiếp điếu khác .
tôi lặng lẽ rút lui khỏi phòng, có lẽ là người đầu tiên.
Buổi chiều, lúc 16 giờ, còn có 1 buổi nói chuyện về khoa học nhân văn của triết gia Éribon. Thời gian còn nhiều, tôi đạp xe lên bờ Hồ, đảo qua mấy hiệu sách. Nhà sách đẹp sang trọng hàng đầu phố Tràng tiền là số 34, nằm bên trái gần cuối đường. Tủ kính bày cuốn tiểu thuyết Thân phận con người / André Malraux, họa sĩ trình bày sách viết thành André Malraur - hình như ở ta, viết tên tác giả dễ ai nhất là BAUdelaire, mấy vị dọc chữ tây ít để ý , thường thêm chữ E = BEAUdelaire. Nghĩ thầm trong bụng, thơ ông này rất khó đọc, chắc chẳng hiểu gì, thêm chữ E vào tên : ông ta trở thành thi sĩ vừa đẹp vừa le lói chăng ?
Bữa nay đi thăm chùa Ngọc sơn , cảnh quan vẫn như , 3, 4 chục năm xưa, không hề hấn gì với tấn bom đạn của Mỹ giội xuống.
tương truyền cách đây hơn 5 trăm năm, Nguyễn văn Siêu từng đứng ra sửa sang toàn cảnh, trên gò có tháp Bút ở phía ngoài và thân tháp tạc hàng chữ tả thanh thiên - chẳng biết tại sao lại thích viết lên trời xnnh ?
đi vòng quanh chùa, đa số chùa ở Hànội lúc này, đang tu tạo - tôi từng nhìn thấy một tấm vải bạt quân đội Mỹ dựng thành cái lán cho thợ nghỉ trưa . Tự nhủ, người Mỹ đã không có mặt ở Hànội đã rất nhiều năm; nhưng sao có tấm bạt nhà binh mới toanh của lính Mỹ ở đây ? - chẳng lẽ , chiếc bạt nhà binh Mỹ có đôi chân cùng đến Hànội với ngoại trưởng Warren Christopher không chừng ?!
vào trong chùa tham quan , trong tủ kính, một hiện vật khiến khách thăm chùa vây quanh lại xem. Một con rùa thật lớn, cứ như bảng chỉ dẫn; chiều dài 210 cm, ngang 120. Rùa sống ở hồ có tới 4, 5 trăm năm, từ thế kỷ XVI, thời ký ta đang chống quân Minh.
Rùa qua đời, nhưng xác hãy còn đây, được lồng đặt trong tủ kính cho người đời chiêm ngưỡng !
***
Ngược bờ Hồ lên hàng Bè, hàng Sũ, ngắm nhiều cửa hàng có bày bán đủ thứ, nhiều nhất vẫn là giầy tây nam , váy maxi- nữ la liệt đủ màu, dài, ngắn hằng hà sa số. Hànội váy ! nữ giới không còn mặc quần tây như Sài Gòn, váy maxi dài tha thướt cho tôi một cảm tưởng đang lang thang trên một phố Âu châu . Đi sang phía bờ sông, có ý tìm Cột đồng hồ xưa - đúng chỗ này - nhưng bây giờ , đường dẫn lên cầu Chương Dương. Nhìn sang bên kia, cầu Doumer, có khoang bị đánh sập vẫn để nguyên như một di tích lịch sử Cầu Long biên được viên toàn quyền Paul Doumer xây dựng, nên đặt tên ông ta, nay chỉ dành cho khách bộ hành và người đi xe đạp.
nhớ lại ngày tháng cũ, khi tôi còn là học sinh mặc quần soọc, áo sơ-mi trắng cụt tay ,đạp xe đạp sang Gia lâm, đi xa hơn, có lần vượt trên đường số 5 tới mươi cây số. Thời ấy, chúng tôi đạp xe đạp vòng quanh hồ Tây hơn 20 chục cây số, đi chùa Hương là thường. Chiếc xe đạp đờ-mi-cuốc ( demi- course), ống tuýp 808, mác xe Sterling, ghi-đông chữ U, tai hồng xe hiệu Bell mà tôi là sở hữu chủ, dường như đang sống lởn vởn sống lại trong trí nhớ. Tôi rủ Bùi hữu Khánh, 2 đứa đều húi cua ( đầu đinh bây giờ) , quần soọc, đạp xe đi học, hoặc rong ruổi chơi, hoặc 5 giờ sáng đã cùng nhau lên sân vận động SEPTO ở phố Trịnh hoài Đức tập đánh' bốc '.
bây giờ nhìn sân vận động hàng Đẫy xây cất lại thật rộng, lớn, đồ sộ, lòng tôi nao nao nhớ tới thuở xưa !
Đi qua khu Quần Ngựa, hoặc chợ Đồng xuân- Bắc Qua, nay cải tạo mới, chỉ còn xác cổng cũ như để lại một chứng tích . .
chợ Đồng xuân- Bắc Qua hiện đang xây, hàng hóa được sơ tán xuống Cửa Đông bày bán tràn lan ở lề đường, kéo dài sang tận phố Đường thành + Phùng Hưng.
riêng chợ bán vải dồn về khu gần phố Huế, đúng hơn là phố Phùng khắc Khoan.
Tôi đến thăm nhà báo nổi tiếng một thời Hànội cũ, anh Hiền Nhân* , ở số nhà 36, gác 1 phố Phùng khắc Khoan . Mắt anh đã mờ, đọc sách dùng kính lúp. Xưa kia , anh phụ trách mục Tiếng vang + trang Học sinh nhật báo Tia sáng - truyện ngắn đầu tay Đời học sinh tôi viết gửi tới, anh cho đăng ngay . Còn nhớ, đó là ngày 17 tháng 11 năm 1952. Tia sáng, tờ báo lớn nhất ở Hànội , dùng máy Rotative đầu tiên in báo 6 trang, ở 38 phố Gia Long. ( nay Bà Triệu). Anh sinh 1907, một nhà báo sống gần trọn thế kỷ XX, kinh qua bao nhiêu tờ báo, từ Đông pháp tiền chiến, L' Étincelle thời kháng chiến, rồi nhật báo Tia sáng, Ngô Vân làm chủ nhiệm. Khi anh viết báo Đông pháp, thì Thượng Sỹ viết phê bình trên báo Tin Mới. Hỏi thăm tôi về Thượng Sỹ, nhà báo kỳ cựu nay ở bến Chương Dương, quận 1, anh cho biết, Thượng Sỹ là bạn cố tri, bây giờ mỗi năm chỉ viết cho nhau 1 lá thư chúc nhau nhân dịp tết Nguyên đán.
ký tặng anh một số sách, không mong anh đọc, tặng đây chỉ là kỷ niệm ghi ơn anh đã nâng đỡ tôi, ở bước đầu tiên viết báo, làm văn cách đây đã gần 1/2 thế kỷ .
-----
* tên thật Đỗ trọng Quỳnh ( 1907 - 198?) - xem thêm Nhà văn hậu chiến 1950- 1956 / Lược sử văn nghệ Việtnam: 1900-1956 / Thế Phong - Đại Nam văn hiến xb, Saigon 1959, 1965.
anh cho biết, hiện nay trong tay có bản thảo Cuộc đời vào làng báo của tôi chưa xuất bản.
một thư riêng khác , viết cho tôi:
'... bản thảo nôm na, tôi kể lại tại sao vào nghề báo và làm thế nào trụ được qua 3 chế độ: thực dân Pháp, Phát xít Nhật + Việtnam Dân chủ Cộng hòa. Sách không ghi tỷ mỷ từng thời ký làm báo [ mà] chủ yếu [ nói về ] cách nào gây được lòng tin với chủ báo + độc giả. Tôi không có ý định [ cho ] xuất bản . Cảm động [ vỉ ] lòng quý mến của anh, khi nào anh ra Hànội, qua tôi, tôi sẽ tặng anh cuốn đó làm lưu niệm đối với bạn vong niên trong làng báo. '.
khi tôi cùng vợ đi du lịch xuyên việt , tới Hànội vào đúng ngày 10 tháng 10 năm 2006, thì anh đã qua đời.
Tôi băng qua ngõ Phất Lộc ( một ngõ thuộc loại phố cổ ngang tầm ngõ Tràng An mạn phố Huế ) sang hàng Mắm, qua hàng Bạc. - và nhớ lại , năm 1950 - tôi về Hànội, thì ngay đêm thứ 2 đã ngủ trọ tại một quán bán hàng ăn. Đó là quán Mai Hương, 20 hàng Bạc. nhà thời cũ đã đập đi, nay, ngôi nhà 3 tầng lầu mới. Không thể quên những bước chân nhỏ dại , hình như bây giờ vẫn còn dấu vết trên hè phố này Lúc ấy, tôi mặc chiếc áo sơ-mi màu mỡ gà ngắn cũn cỡn , lang thang tìm bắt gặp một hiệu sách cho thuê truyện - vào lục lọi tìm được cuốn sách mỏng nhập tâm : Tấm lòng vàng / Nguyễn công Hoan. Sách mỏng , loại viết cho thiếu niên đọc, với tôi, nó là cuốn sách gối đầu giường khi ấy - có lẽ , không phải vì văn chương, nhưng, nội dung truyện đã nâng đỡ tâm linh tôi , một cậu học trò cô đơn về Hànội học, bơ vơ giữa thủ đô Hànội.
đi dọc lên phố Mã Mây, tới hàng Buồm, phố Tàu xưa, nơi từng có nhà hàng Escalier d' or bán bán trung thu nổi tiếng Đông hưng viên. Năm đầu về Hanoi , hình như chỉ có 1 lần, tôi mua được 1 cân bánh trung thu jambon thập cẩm gửi cho mẹ tôi. ( bà chỉ thích bánh trung hiệu này).
nhà hàng nổi tiếng Mỹ Kinh xưa kia bây giờ thay chủ mới tử lâu , tôi vẫn liếc mắt nhìn vào, để nhớ lại món ăn ngon miệng do bếp người Tàu nấu . Chùa Bạch Mã vẫn còn đây, nay rêu phong trơ gan cùng tuế nguyệt- một câu thơ cổ nào đó đến với tôi , diễn tả nét cổ kính ngôi chùa lịch sử. Căn nhà mang số 29 ở hàng Buồm, cổ kính nhất phố cổ thì phải, bề ngang hẹp chừng 2 thước, mái thấp lè tè, lợp ngói âm dương, cây cỏ chen chúc mọc tự do trên máng xối.
từ quán cà phê 19 hàng Buồm, cô chủ thuê lại báo Người Hànội - ngồi đây- tôi nhâm nhi ly cà phê, nhìn sang bên kia đường : có một người đàn ông nằm co quắp ngủ ngon lành bên cạnh con sư tử đá. Tôi thường tới đây vào giấc trưa, quán vắng khách, yên tĩnh lạ thường ! Có lần, ngủ ngồi trên ghế,văng vẳng nhạc nhẹ bên tai như ru . Cô chủ quán sinh trưởng ở Hànội, giọng nói người Hànội cũ , không pha tạp như đa số người nhập cư. Hình như, tôi chỉ gặp được đôi ba người có giọng nói Hànội cũ. Rồi được nghe kể : thủ đô sau ngày ký hiệp ước Genève - từ 1 tháng 10 trở đi - dân tứ xứ về thủ đô, nhiều nhất từ Nghệ Tĩnh. Do vậy, giọng Hànội mới phát âm nằng nặng, kém thanh thoát, không vội phải so sánh :Câu thơ thi xã con thuyền Nghệ an / Cao bá Quát ! Nhưng đúng là có , đã bớt đi nhiều giọng thanh lịch của thời gạo trắng, nước trong, trước 1954.
cô chủ quán bán phở gà tần ô phố hàng Gà , người Hànội cũ - bữa đó tôi mời ba cô nhà văn Sài Gòn cùng ra Hànội họp ăn sáng, ăn xong , tôi hỏi bao nhiêu tiền ? Cô bé khá xinh, con chủ quá trả lời :
' thưa ông 39 nghìn ạ!' - đưa tiền, cười mỉm - tôi cố tình hỏi lại: ' ba vạn chín nghìn phải không cô ? '. Cô ta gật đầu, nhưng bà mẹ ở phía quầy thu tiền, nói vọng ra :
' thôi tôi biết rồi , ông là người Hà thành xưa mới biết câu này '*
----
* 3 vạn 9 nghìn : ' mày ăn cái ba vạn chín nghìn của bà ! '
tạt vào chỗ cô bán hàng ở góc hàng Đường + hàng Buồm, tôi chỉ vào hộp sữa bột, cô ra giá:;' đúng 30 nghìn !"- trả giá: - 28 thôi, giá bán ở Bưởi đấy ! ' - gói hàng, cô mỉm cười:
' thôi, cháu bán cho chú đấy thế ra , chú cũng là người Hànội một thời !'.
giọng nói của tôi giống người Hànội, nhìn cách ăn mặc, nhất là cái túi mang bên người, lại thêm đôi giầy da khác kiểu, nên cô bán hàng nhận biết là khách ở xa tới.
một cô bán phở gà ở phố Thịnh Yên - khu Hòa bình, chợ Mơ - dùng kéo cắt thịt gà luộc, không chặt miếng, cô xé nhỏ từng sợi thịt đặt trên bánh phở.
hỏi : chặt gà thành miếng thay vì xé rời , tính thêm tiền ,được không ? cô ta bèn kể chuyện: người Hànội sau 1954 có thịt gà ăn không phải dễ xơi, giả dụ, hàng xóm biết, ghen ghét ,sẽ đi tố cáo ngay , từ đó dùng kéo cắt không có tiếng động của dao, thớt.
thế ra, phở gà xé cũng có cái lịch sử của nó song hành cùng biến thiên - hay đây chỉ là cách lý giải dí dỏm vui vui của người Hànội? * - lần đi ăn phở ở phố Thịnh Yên- sau đó tôi cố tìm nhà cũ của vợ chồng kịch sĩ Sỹ Tiến+ Khánh Hợi . ( tên thật Nguyễn xuân Kim , tác giả Những mảnh tình nghệ sĩ'. ) Trước 1954, tôi thường lại nhà anh chị ăn ké cùng đàn anh, ký giả Anh Hợp.
hỏi thăm, không ai biết, và tôi cũng không tìm thấy căn nhà ngày xưa anh chị từng ở - , nay, chỉ còn nhớ cô bé thường hay quấn quýt lấy tôi, nay đã trở thành ca sĩ nổi danh :
' ...chú nhớ đến bố mẹ cháu, giờ này Hànội đang là mùa thu, may mắn quá, chú đã nhìn thấy chân dung ảnh ba mẹ cháu trong một cuốn sách ** -Ba cháu mặc áo vét-tông, đầu đội mũ bê-rê, dưới ghi hàng chữ rất nhỏ : SĨ TIẾN : nghệ sĩ nhân dân . Nét mặt ba cháu đăm chiêu, khắc khổ, không thắt cà-vạt - ba cháu ký SỸ TIẾN - chữ Y dài, không phải I ngắn . Vá ,chú từng được nghe giọng hát rất hay của cháu trong một băng nhạc nào đó - như vậy cũng tốt rồi !
------
* câu văn in chữ đậm do Trưởng chi nhánh Nxb Hội nhà văn (nhà văn Hoàng lại Giang ) tại tp HCM thêm vào, khi tôi đưa xin cấp phép . Bản thảo đưa qua 3, 4 nhà xuất bản - trung ương có, địa phương có - đều bị khước từ.
lần này , nhà văn Nhật Tuấn làm biên tập , cho biết sẽ được cấp phép - nhưng đúng lúc ấy, ông Trưởng chi nhánh bất thần nghỉ việc - bởi - ở Hànội có giám đốc mới - vậy - hy vọng của tôi trở thành công cốc !
năm 1999, tôi lại đưa bản thảo tới Chi nhánh Nxb Thanh niên tại tp HCM - lần này được cấp phép, âu cũng là sự ưu ái của thi sĩ Thái Thăng Long có cặp mắt xanh .
** Văn hóa Việtnam / tổng hợp 1989-1995 ( Memento) do ban Văn hóa văn nghệ trung ương xb, Hànội 1989 - Trần Độ chủ biên .
cô chủ quán cà phê ở 19 phố hàng Buồm đánh thức tôi dậy vào 13 giờ 15, bởi , buổi chiều phải tham dự một buổi diễn thuyết nữa, văn sĩ- triết gia Didier Éribon . Nhìn tôi dắt xe đạp rời quán, cô nói với theo:
'... lần sau trở lại, cháu sẽ pha một chung trà thật ngon tráng miệng ,không lấy tiền chú đâu... !'.
Đạp xe tới 42 phố Yết kiêu, chẳng gặp nữ văn sĩ Kim Cúc, Minh Ngọc, Lý Lan , kể cả giáo sư Mai đâu cả.- hóa ra - tôi đến quá sớm, không phải 14 giờ mà 16 giờ chiều mới bắt đầu .
đành vào quán nước cạnh trung tâm, rất đông khách, ngọai kiều có, nhiều nhất, sinh viên việt học tiếng Pháp, bà chủ sởi lởi : cam vắt phải không ? - lắc đầu - cà phê đen nóng + 1 bao 3 số. Bà chủ đã quen, bởi sau mỗi buổi họp, tôi và Lý Lan tạt vào uống cam vắt. Lại hỏi tiếp: cô bạn đâu , anh đang theo học tiếng Pháp ư, mà này, cô bạn đi cùng dễ thương đấy !'. Bà chủ quán sính văn chương dân gian tiếp
lời: cô bạn ấy mặt bầu bầu trông lâu phát ghét ! ( tôi biết bà đổi 2 chữ cuối, không sao, cũng tốt thôi !). Ngồi nhâm nhi cà phê, hút thuốc, lôi cuốn Poésie complète / Tahar Ben Jelloun ra đọc- tập thơ được bọc ngoài bằng giấy báo, tránh thiên hạ tò mò nhòm ngó. Vẫn thường làm vậy, khi đọc sách ở chỗ đông người. Tác giả Jelloun vào đề trang đầu sách- đại để làm thơ bắt đầu từ 1966, năm 19 tuổi - thêm dấu hỏi sau 1966 ?- có nghĩa, tác giả không nhớ rõ thời gian đầu làm thơ chính xác vào năm nào - thơ toàn tập dày cộp trên 500 trang - tập hợp những bài thơ đã làm, in trong 1 cuốn gọi là tổng kết - liệu có :... làm sống động trong trái tim tôi , của chính tôi + thế giới [ mà tôi đang sống ] ? / Aimé Césaire. Lấy câu đề từ này, tác giả có ý biện minh cho thơ làm ở ban đầu, được nói lên từ sự giận hờn, sự cần thiết nào dùng thơ để làm phương tiện chống bất công, man trá, bội phản . Có lẽ vậy, tác giả không thích làm thơ tình - từ những năm 1965, 66, khi còn là sinh viên trường đại học Rabat.
rất thích thơ Jelloun, tôi tự nhủ, ngày mai đây , ông ta là diễn giả văn chương, thật lý thú! Dầu rằng Jelloun dùng ngôn ngữ Pháp viết tiểu thuyết, làm thơ, vẫn tự biết mình là dân nhược tiểu , không thể quên nỗi đau đớn là dân bị thống trị, thiếu có tự do và chịu nhiều bất công quá đáng !
nhìn ra ngoài phố, bóng chiều xế bên hè phố đối diện, nắng đã bớt gắt, tôi rất mong được nhìn thấy bóng dáng Lý Lan. Và Lý Lan đã đến, quả thật là nàng rồi - nàng mặc váy đúng mốt Hànoi váy.
cô ta trách ngay; sao họp xong, ra ngoài không thấy tôi, lủi nhanh thế! Bữa nay đã gỡ cái yên phía sau xe đạp chưa? Gật đầu ,tôi hứa sẽ làm đúng như lời cô nàng .
Chúng tôi vào phòng họp trên lầu 1, bữa nay được nghe diễn giả nói về triết học nhân văn ở Pháp từ những năm 50 - cụ thế nói về ai đây? - chương trình chỉ ghi chung chung, chỉ diễn gỉả và người sắp chương trình biết rõ.
chọn ghế của hàng sau cùng, vì tôi nhớ lời Kinh thánh : nếu ngồi trên, bị mời xuống sẽ bẽ mặt, nhưng, nếu ngồi phía sau được mời ngồi trên, chẳng tốt hơn sao ?'
Lý Lan ngồi bên : có gì thì dịch cho nghe với nhá! - nói vậy thôi - diễn giả nói xong một câu, thông dịch viên dịch ngay - trừ 1 buổi nhóm, nữ giáo sư Lê hồng Sâm thuyết giảng bằng tiếng Pháp, không cần thông dịch viên, một số thính giả bỏ ra về, ngồi lại nghe ư, khác gì lũ vịt nghe sấm !
từ phòng họp bước ra, Lý Lan phát biểu:
"... sao ông đặt câu hỏi rắc rối thế, diễn giả cho rằng khó trả lời. Riêng tôi, rất thích dáng dấp ông ta diễn thuyết, mặc dầu tôi chẳng hiểu gì ?
chúng tôi tới quán cạnh trung tâm - ở đấy - đã có mặt diễn giả Éribon, Toussaint, Jelloun, Rolin ngồi sẵn từ trước, ở một bàn góc cuối phòng. Có vẻ họ đang bàn luận về buổi nói chuyện Éribon vì, loáng tháng nghe nhắc tên Jean-Paul Sartre. Rất bất ngờ được nghe Éribon nói về Sartre , diễn thuyết xong, nhìn xuống hội trường, hỏi ai góp ý , phát biểu ?
tôi đứng dậy đầu tiên, nói tiếng Pháp:
" .. xin được hỏi ông chi tiết nhỏ về Sartre ? hình như khoàng 1960, Nxb Grasset in Cuộc cách mạng các nhả văn hôm nay / R.M. Albérès, dẫn chứng lời 1 lý thuyết gia mác- xít Henri Lefèbvre phê bình vị trí nào mới đúng nhất, đối với Jean-Paul Sartre : ' ...với nhà văn, thì Sartre là tay triết-gia-văn-sĩ - nhưng - đối với triết -gia thực- sự , thì Sartre chỉ được coi như văn-sĩ -triết-gia mà thôi. Ông nghĩ sao, và có thể nói thêm về ý nghĩa câu này ?
----
* La révolte des écrivains d' aujourd' hui / R.M. Alberes - Grasset, Paris 1950?
và như Lý Lan nói trên kia, Didier Éribon trả lời câu hỏi quá khó , sẽ trả lời sau ! - riêng ý tôi
( Éribon) , thì Jean-Paul Sartre là triết gia đúng hơn là văn sĩ .
hỏi tiếp , vậy thì câu trả lời vẫn chỉ là postulatum ( định đề ), chưa hẳn là trả lời thẳng vào câu hỏi .
thầm nghĩ thôi, mấy tay diễn giả tây khoác cốt cách dân nước lớn văn minh hơn, sang đây diễn thuyết về Sartre- chắc thính giá Hànội đã mấy ai hiểu cặn kẽ? Vậy thì, cái kim này khiến ông ta bị nhột đây !
vừa lúc này, Robert Lacombe từ ngoài bước vào quán, gặp tôi và Lý Lan, bèn tự kéo ghế ngồi chung , hỏi tôi quan tâm vể Sartre , có đúng vậy không ?
trả lời chung chung:
' ....ảnh hường văn chương hiện sinh Sartre và đồng sự, không chỉ ảnh hưởng tới nước chúng tôi từ trước 1975 ở Saigon- mà ngay ờ Pháp - đã có một cô nàng tên Monique chỉ đọc văn hiện sinh, rồi chán chường không thiết sống, bèn tự vẫn đấy thôi ? Riêng tôi, thật không ngờ bữa nay ông Éribon lại nói về Sartre - mà chương trình giới thiệu : bàn về khoa học nhân văn ở Pháp vào những năm 50 ? Cũng có thể nói rằng : nhân vật có thực ngoài đời , cô Monique đã sống quá tích cực hơn cả nhân vật trong văn chương hiện sinh Sartre? Trái lại, Sartre lại rất ghét một lối dấn thân khác- chắc chắn ông Eribon đã đọc Văn chương là gì / J..P Sartre ? - ngay câu viết đầu trang, Sartre đã phê phán : 'Anh muốn sống dấn thân ư - một tên trẻ tuổi ngu xuẩn viết vậy - còn đợi gì mà không ghi danh vào đảng CS? *
----
* Qu' est ce que la littérature / J.P. Sartre - ( Gallimard, Paris, 1948 ). Saigon trước 1975, đã có bàn việt văn Nguyễn văn Tạo. ( Văn chương là gỉ?- Chi Lăng xuất bản, Saigon, 1968). Sartre viết :'... Si vous voulez engager, écrit un jeune imbécile, qu' attend vous s' inscrire vous au
Parti Communiste ?'
Robert Lacombe, tùy viên báo chí sứ quán Pháp ở Hànội, bây giờ mới lững thững đi tới phía bàn các nhà văn phương tây đang đợi. Và Lacombe vửa cười vừa nhắc lại lời mời các nhà văn tp. HCM tới quán Hoa Ban , mà chủ quán là tay viết văn tên Nguyễn huy Thiệp .
- không thấy ghi trong chương trình nghị sự, vậy thì, được tự do lựa chọn , đúng thế chứ ? tôi hỏi lại, và Lacombe gật đầu.
Lý Lan ngỏ lời khuyên nên đi, vừa được ăn ngon, vừa làm thông dịch viên cho cô. Lý Lan rất có cảm tình với diễn giã tây Éribon, người cao ráo, nói rất hay, lịch sự với phụ nữ số 1 , tiền bạc rủng rỉnh, chứ không bủn xỉn, hà tiện như bạn trai cô mời đi uống nước, người thì lùn, mặt tròn như nàng Hằng Nga, uống xong, xách đít đi trước, giớ tay bye bye , tay kia giữ chặt bốp túi quần sau!.( nghĩ thầm, cô văn sĩ này xón lấy chồng tây đấy thôi !)
chưa có định đi hay không, trước mắt, tôi lấy xe đạp chở Lý Lan dạo quanh bờ Hồ đã , sau đó ,tới thăm Đỗ Phương Quỳnh. Lý Lan đồng ý ngay, trên đường đi, nhớ đã đọc 1 bài phỏng vấn ngắn về Nguyễn huy Thiệp - tờ báo hải ngoại giật tít rất khêu gợi :
' nhà văn phản chiến Nguyễn huy Thiệp rửa tay gác kiếm '
phía dưới thêm surtitre:
' Mỹ bỏ cấm vận, nhà văn phản chiến ngưng viết, quay sang kinh doanh hiệu ăn Hoa Ban ..' - bài viết ký tên Đạm Thúy & Trần Minh .
phóng viên báo hải ngoại đặt câu hỏi:
H: -... rất nổi tiếng, nhưng cũng có thăng trầm, có lúc nào anh bị đối xử thiếu công bằng không ?
Đ : .. tôi ( NHT) không bao giờ nghĩ mình bị đối xử bất công, mà tôi cũng không đòi hỏi được đôi xử công bình. [ bởi ] điều đó vô nghĩa [ đối ] với bất cứ ai ( ....) Danh tiếng rất hão huyền, tôi đã 46 tuổi... già rổi, ở tuổi này có nỗi đau sẽ thấy đau hơn, có nỗi nhục sẽ thấy nhục hơn, không như khi người còn trẻ ...
vậy thì, tôi có ý định thử đến quán ăn để biết mặt người bằng xương, thịt, tác giả truyện Phẩm tiết, viết thật tài tình, nói lên nỗi nhức nhối, hằn đòn, nhục nhã của viên tướng hưu về già.
nữ văn sĩ Đỗ Phương Quỳnh sắc sảo, khá xinh, duyên dáng, có sức hút đàn ông như nam châm hút sắt - chỉ mấy ngày rong chơi ờ Saigon ( ở nhở nhà Ý Nhi ) , tay thi sĩ H.O Tô Thành Tài van vỉ, nhờ cậy Ý Nhi giới thiệu- với lời có cánh về anh ta - để Quỳnh liếc tới thân phận tôi trai háo sắc. Cô Quỳnh này nhiều người để ý lắm - thi sĩ thuộc loại via ( già ) Hoàng Cầm khoái được là trâu già thích nhai cỏ non - rồi tới một dịch giả: dáng cao ráo, bảnh , có học vị, dịch Papillon người tù khổ sai / Henri Charrière rập rình đóng vai tên tù khổ sai riêng của nữ chủ ngục họ Đậu * ?
-----
* xứ Thanh, họ Đỗ đổi thành Đậu.
Lý Lan ngồi sau ngồi phía sau, hai tay nắm chặt yên, miệng lải nhải:
'... đi đi mà, mấy khi có cơ hội tới quán ăn Hoa Ban, ăn không phải trả tiền, riêng tôi rất muốn gặp ông É..mới diễn thuyết về Giăng -Bôn-Xạc ấy, vừa đẹp trai , người cao ráo, nhìn bắt mắt ngay. Đi đi ông P... ơi !!!
Phương Quỳnh ở trên gác lầu 1, trong phòng treo nhiều tranh của nhiều họa sĩ tài danh. Gọi là dealer không mấy sai, khách tây thích tranh, cô bán với giá chắc không rè, cô cũng từng viết đôi ba truyện ngắn để được gọi là văn sĩ, mọi người nhìn vào cô đều thèm muốn.
gặp nữ văn sĩ Lý Lan, Phương Quỳnh rất niềm nở, nhận sách tặng, rối rít khen tác giả trẻ, đẹp. Quỳnh cho biết có đọc một đoạn ký giả Passiscousset phỏng vấn Lý Lan đăng trên tạp chí Le Mékong .* :' cô ta rất có cá tính, không chịu cho tổng biên tập sửa bài, nếu làm vậy, cô ta sẻ nổi giận và không cộng tác gừi bài nữa' - . và quay sang hỏi tôi về Lý Lan: viết có hay không, có thật đã từ chối chức vụ ủy viên Ban chấp hội Nhà văn tp. HCM không ?
Quỳnh mời ở lại ăn cơm, đành phải từ chối thôi , vì đã được mời tới quán ăn Hoa Ban / Nguyễn huy Thiệp ở bên kia sông - và tôi cảm thấy không nên trò chuyện lâu - một anh chàng trạc 40 ngoài ngồi im như miệng ngậm quả thị, mặt lạnh như tiền, bực rọc mà đành nén xuống - hình như tay này đang courir le jupon Quỳnh, thì bị chúng tôi phá đám !!!
-----
* '... Moi, je propose mes histoires à mes amis les rédacteurs en chef et c' est à prendre où à laisser. Soit ils publient l' intégrale, soit rien du tout, je ne supporte pas qu'on change quoique ce soit à mes textes. Les responsables des publications savent que s' ils ne respectent pas les règles; je me fâcherais et nous ne travailler plus jamais ensemble...'
Lý Lan ( 1957 - ): Một chút lãng mạn trong mưa ( 1968) - Chiêm bao thấy núi ( 1990) - Đất khách ( 1995) , sinh năm 1957 ở Thủ dầu Một - cha người Quảng Đông ( Trung quốc) mẹ người Bình dương (Việtnam).
thấy tôi chở Lý Lan bằng xe đạp, Quỳnh cho biết, tiếc quá chiếc xe gắn máy Honda đã cho một người bạn mượn, chứ chở người đẹp rong chơi bằng xế điếc * thì mệt thật !
---
* tiếng lóng chỉ xe đạp.
trả lời Phương Quỳnh, đạp xe đạp tuy mệt, dễ xâm nhập vào Hànội hơn, ít ai nhòm ngó. Giả thử Phương Quỳnh là người phải theo dõi đối tác chẳng hạn :
"... này nhé. như cô chẳng hạn, quen đi xe gắn máy Dream để theo một anh chàng trung niên đạp xe đạp cọc cạch lang thang - chừng như muốn cụp xương sống- tưởng đi những đâu, làm gì, nói chuyện với ai , bàn bạc cái gì - nhưng không, chàng trung niên gàn bát sách đã dám lao xe đạp từ trên cao xuống dốc Nghi Tàm như ngày xưa - và - tuyệt nhiên không còn thấy ấu vết đâu là hồ tắm Quảng Bá. Bây giờ đây,Hànội đầy rẫy biệt thự , nhà cao tầng cho ngoại kiều thuê; riêng đê Yên phụ, rất nhiều nhà xây lên không phép bị đập đi, nhưng còn lại duy nhất trơ trọi 1 ngôi nhà không bị đập phá , sừng sững đứng thắng, không nghiêng ngả sang phải, qua trái , như có ý thách đố:
'.. cho ăn kẹo đứa nào đám phá nhà của ông đấy ?'
vậy thì, cô Quỳnh ạ, có đi theo tên khố rách áo ôm, lẩm cẩm kia -miệng lẩm bẩm chữ và nghĩa -văn và chương - thơ và phú - óc tối tăm , lú lẫn .. .- cần gì phải biết hành tung hành tiếc tên phải gió làm gì... cho mất công, tốn sức ! ? .
Phương Quỳnh nghe xong, cười, phán: anh đang viết tiểu thuyết tự sự đấy à ?
nhìn tôi chở Lý Lan ngược về hướng Cửa Đông, nơi trọ chung phòng với Minh Ngọc, Kim Cúc - cô ta vẫn nỏ mồm tra hỏi: ... đã nói điều gì khiến ông phật lòng không tham dự bữa ăn, nếu có ai hỏi, tôi phải nói sao cho lọt lỗ tai đây ?.
tới Từ Liêm đã 8 giờ tối, cô giáo Hoàng lương Thái chủ nhà cho tôi ngủ trọ ( vợ Kiều liên Sơn ) nghe tiếng gõ cửa , ra mở , ngạc nhiên :
' sao bác báo đêm nay về nhà muộn cơ mà ?'
cháu Trung hỏi tiếp mẹ :
' vậy bác về sớm thế, có mua kẹo cho cháu không ? ' []
thế phong
( trích HANOI 40 NĂM XA... / THẾPHONG -
Nxb Thanh niên in lần thứ 1, năm 1999 - tr. 44 - 60 - BÀI TU CHỈNH : tháng 9/ 2013)
Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013
t.t.kh. nàng là ai? / thế phong ( thế nhật ) : thơ t.t.kh. hậu chiến hay vân nương qua tơ sương
chương 4
t.t.kh. hậu chiến
hay
vân nương qua tơ sương
thế phong
Trong số các nhà nghiên cứu, phê bình văn học- có thể liệt Thanh Châu thuộc loại phê bình gia đặc hạng của hiện tượng văn học có thật về T.T.KH. - bời, khi ông cho in lại truyện ngắn Hoa ti-gôn, ông chú thích về truyện này vào 1968:
"... nhưng sức sống của T.T.KH. cũng thật lạ. Từ 1937 thơ ra đời, đến năm nay ( 1989) vẫn được nhiều bạn yêu thơ T.T.KH. nhắc đi nhắc lại... " ( trong nước cũng như kiều bào hải ngoại ).
Ông ta viết 2 bài, một, mới nhất : Nói thêm về T.T.KH. chưa đủ, bèn chép lại mấy bài thơ cũ ấy, tự sưu tập riêng cho bản thân - khi nghe băng cassette ghi giọng ngâm thơ T.T.KH. của một bà đã ở Hànội - nay là kiều bào ở Paris. Ông ta đánh giá sức sống của thơ T.T.KH. là tiếng lòng cảm khái về : "... chuyện tình duyên đôi lứa thời nào cũng gây được sự đồng cảm của người đồng lọai ..." *.
-----
* VĂN XUÔI LÃNG MẠN ( tập 8 ) in truyện ngắn của các tác giả : Thanh Châu, Nguyễn Tuân, Huy Cận, Thanh Tịnh, Lãng Tử, Đỗ Tốn, Chế lan Viên, Ngọc Giao ... -( Nxb Khoa học xã hội, Hànội, 1989).
- như trên đã dẫn nhập, huyền thoại đã vì ai và cho ai ( chữ Thanh Châu dùng) để nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên - " bây giờ còn ai tin T.T.KH. gắn liền tình và thơ với Thâm Tâm; càng không nữa[ đối] với Nguyễn Bính.( lời Thanh Châu)
Thanh Châu phê phán bài thơ Màu máu ti- gôn ( gửi T.T.KH., tác giả bài Hai sắc hoa ti-gôn là một bài thơ dở NHẤT ) - Thanh Châu nhấn mạnh chữ NHẤT - in nghiêng chữ hoa - thật không xứng với thơ Nguyễn tuấn Trình ( tên thật Thâm Tâm ) . Có những câu :
K... hỡi người yêu của tôi ơi
Nào ngờ em giết chết một đời ?
Thanh Châu tự cho mình là người có quyền được nắm giữ hầu hết bí mật thơ T.T.KH. , nên ông tự đạt câu hỏi, khi ông Mã giang Lân ( 1933 - ) tuyển in vào tập THƠ THÂM TÂM * mà không đề năm , tháng, xuất xứ. Thanh Châu phủ nhận một cách ẩn ý về bài này, lẫn cà bài Các Anh ... mà ông cho là thơ dỏm của Thâm Tâm. Ông lại cất cọng đi tìm gặp bằng được ông Phạm quang Hòa, vì ông này được : nghe nói ông này trước kia có làm thơ, và quen thân với Thâm Tâm, còn giữ được nhiều thơ cũ. ' ông Phạm quang Hòa đã chép cho tôi một bài thơ giống như bài Các Anh.. .nói trên' ... Nhưng theo ông Phạm quang Hòa, thì đây là bài thơ Thâm Tâm trả lời T.T.KH., sau khi có bài Bài thơ cuối cùng / T.T.KH. đăng trên báo Tiểu thuyết thứ bảy. *
------
* Thanh Châu, đã dẫn - xem chú thích 2.
Dấu hỏi sau đoạn văn trích dẫn trên là do chính Thanh Châu nghi hoặc - tất nhiên ông ta không tin chắc lập luận của ông Phạm quang Hòa nói là xác thực. Ý thức thâm sâu của Thanh Châu , là tìm hiểu thật cặn kẽ vầ những nhà thơ giây máu ăn phần với thơ T.T.KH., không gì khác hơn : định đề kia chỉ là huyền thoại.
' Ông ta đã thành công, rồi phải không các bạn?'
Thanh Châu đã chẳng coi truyện ngắn Hoa ti-gôn của ông là đặc sắc sao !( đối với ông ) - nếu có người nào hỏi ông ta về sự nghiệp văn chương chính ông, ông ta không ngại ngùng trả lời, rằng :... tôi đã viết được ngắn truyện Hoa ti- gôn'.
bởi, chính truyện Hoa ti-gôn in vào 1937, thì cùng năm ấy, mới có 3 bài thơ của T.T.KH., khiến bao con tim thổn thức qua nhiều thế hệ, vì thơ của T.T.KH., tiếng riêng của thiên thần, thì phải chiếm lòng người hơn chứ và tôn cao giá trị hơn bội lần Hoa ti-gôn của chính tác giả. '
Thanh Châu không những được nghe băng cassette ghi âm giọng của một bà kiều bào ở Paris - ông ta còn được nghe một băng cát- xét khác: lần này đặc biệt hơn: ' thơ T.T.KH. lại chính do T.T.KH. ngâm ?! Quả là một tâm hồn đồng điệu, đồng cảm, đồng tình, không còn ai hơn được : Sám hối nửa đêm tận lòng yêu Bóng người ngày xưa của T.T.KH ! ' *
----
* Sám hối nửa đêm và Bóng người ngày xưa : tựa 2 tác phẩm của Thanh Châu xuất bản vào những năm 1940, 1941 . ( TP).
Trong số những người đầu tiên biết T.T.KH. hiện sống ở Pháp - trong đó có Thanh Châu , điều này không còn gì nghi ngờ, bởi ông ta còn biết chuyện chính tác giả T.T.KH. ngâm bài thơ chính mình sáng tác, đó là bài Hai sắc hoa ti-gôn, bắt đầu từ câu: ' một mùa thu cũ trước hoàng hôn ' đến câu:' trong một ngày vui pháo nhuộm đường ' - thì lại bắt đầu sang bài khác, đó là bài Bài thơ cuối cùng của T.T.KH. tác giả bỏ lại 2 đoạn đầu gồm 8 câu, mà lại ngâm từ câu:" từ đấy thu rồi thu lại thu'.
cho đến: ' tựa trái tim phai tự má hồng' là hết bài .
Người nghe, nếu không nắm được thơ T.T.KH,. thì rất có thể nhầm dó là cùng một bài.*
---
* theo Thanh Châu - bđd - xem chú thích trên
***.
Sài Gòn trước năm 1975, nào là người đọc, người ngâm, kẻ nhạy cảm khóc thầm với Hai sắc hoa ti gôn - dăm ba nhạc sĩ phổ thơ T.T.KH. - hẳn rằng Thanh Châu không thể không biết- bởi, chính ông ta còn biết rất rõ ai là người phổ thơ T.T.KH rất hay - đó là nhạc sĩ Trần Trịnh * phổ nhạc Hai sắc hoa ti-gôn qua điệu tango. Rồi cả nữ ca sĩ hát bài ấy tên cô ta là Thu Hương nữa. Vậy thì, Thanh Châu đã tìm tỏi khá đầy đủ những gì co liên hệ tới mối-tình-thơ-thế-kỷ đến tận chân tơ kẽ tóc, ngọn nguồn
mới thôi ! Như thế, hẳn đã đủ cho đời nhận ra được hiện tương thơ T.T.KH. : bài thơ Hai sắc hoa ti gôn / T.T.KH. và truyện ngắn Hoa ti-gôn / Thanh Châu chỉ là một.
----
* Trần Trịnh có một thời là chồng ca sĩ Mai lệ Huyền, và đã phổ nhạc bài thơ Lệ đá rất thành công.
Như vậy, giá trị thơ T.T.KH. đủ điều kiện để :'... ai đó nói thơ T.T.KH là kiệt tác cũng hơi quá *, không cần hà hơi quá sức mà đích thực phải thừa nhận có giá trị liệt vào kiệt tác- được người đọc nhớ lâu hơn cả bài thơ bất hủ của Arvers là khác !
----
* Hoài Thanh + Hoài Chân / Thi nhân Vietnam , sđd.
cũng vì lý do thơ T.T.KH. hỉ có giá trị văn học được đánh giá vào thời kỳ văn học tiền chiến 1930- 1945; nện điều này, khiến chúng tôi phân vân, khi đối chiếu gia trị thơ T.T.KH. tiến chiến với T.T.KH.
hậu chiến, qua những bài : Tơ sương, Con đường lý tưởng ...- hoặc những bài thơ khác đăng rải tác từ thời kỳ 1960 đến 1994.
thơ T.T.KH ( hậu chiến) - một cách nói khác về thơ Vân Nương ở thời kỳ tiền chiến nói về mùa thu. (Bài thơ cuối thu) không bắt đầu , như :
Một mùa thu cũ mỗi hoàng hôn ...
thời kỳ hậu chiến :
... Nhớ những mùa thu trước
Êm cảnh thanh bình
Trăng ngà trải lụa thiên thanh
Khuôn hoa e ấp trên cành thắm non
Thế rồi
Bão táp mưa sa
Trăng tàn hoa tạ
Mông mênh sầu ngập biển đời
Trời thu lộng gió để người sầu thương ..
VÂN NƯƠNG
196O
Vân Nương khác với T.T.KH. tiền chiến : là những bài thơ thời hậu chiến viết the thể tự do ( Bài ca cuối thu) , thơ Đường luật có, xướng họa liên hoàn cũng có ( Sầu thu) , lục bát không thiếu ( Thất thế - Triền miên - Thu Cao nguyên - Hoang vu ) và thơ xướng họa càng nhiều ( bài thơ vần UYỂN- họa cùng thi sĩ tài tử B.K.Đ .*
----
* tức Bùi khánh Đản, tay làm thơ tài tử này , có lần, xướng họa với Nhất Linh - bài này đăng trên tạp chí
Văn hóa ngày nay ( Nhất Linh chủ trương) trong những năm 1958, 1959 ở Sài Gòn ( TP chú thích sau ) .
Vân Nương nhắc đến mùa thu hậu chiến, nhưng không còn bối cảnh gắn liền với mối tình ngang trái đời mình, đời chàng - và, thơ thu tác giả tả cảnh thu thiên nhiên nhẹ nhàng trung thực :
... Lá vàng gió cuốn bay vèo
Giật mình chợt nhờ : ơ chiều vào thu
Xa xa sương phủ mịt mù
Ạt ào thác đổ, âm u núi rừng ...
THU CAO NGUYÊN, 1960 / VÂN NƯƠNG
tả cảnh hoang vu Cao nguyên: nước chảy đổ lưng ghềnh đá ( thác ), tác giả len lỏi đi trên vách đá rừng sâu; sau khi đã vật lộn mỏi mệt với đời, cạnh tranh danh lợi :
.. Lững lờ nước chảy lưng ghềnh
Nắng len lỏi - đá núi chênh vênh trời
Hoang vu nào thấy bóng người
Nơi đây hẳn cũng vắng mồi lợi danh ...
TRIỀN MIÊN / VÂN NƯƠNG
không thấy Vân Nương nhắc mối tình thơ tiền chiến , chỉ thấy tác giả trải rộng đắng cay , khi nói về hoa ti- gôn; hoặc từng dáng như tan vỡ, đẹp những nỗi buồn chiều thu hoa rụng chiều thu ... bởi, bà giấu nỗi lòng thu sầu năm trước, bằng lời thơ trong Sầu thu hôm nay :
.. Sầu thu ghi lại mấy dòng đây
Thắm nhạt càng phai cảnh sắc này ...
Mái tóc sương pha cay đắng đủ
Tương giang một giải mênh mông nước
Ô thước đôi bờ vương vít mây
Phảng phất mưa vương hồn Chúc Nữ
Buồn dâng nghèn nghẹn ý chua cay ...
SẦU THƯ LIÊN HOÀN 10 BÀI - VÂN NƯƠNG
tâm sự Vân Nương được nhắc đến ở đây : rất ý nhị, bóng bẩy , ẩn chìm- nếu không biết được
tình ý cuộc chơi chữ, mà chỉ đọc phớt qua , thì chỉ càm được cách ảo mờ mà thôi. Như: phảng phất
mưa vương hồn Chúc Nữ để rồi buồn dâng nghèn nghẹn ý chua cay - thì ai cấm là không nhớ đến
mỗi mùa thu trước mỗi hoàng hôn để bây giờ mưa vương hồn Chúc Nữ / nghèn nghẹn ý chua cay !.
tôi gọi đó là : một hình thức thơ quốc âm ba lối - ai hiểu sao cũng được, hiểu và cảm sâu xa tận cùng cũng tốt, hoặc lơ mơ hiểu phơn phớt màu ho đào chẳng chết ai - bời, trái tim hồng từng bị xẻ dọc đôi đường, đôi ngả.
Tập thơ Tơ sương / Vân Nương ( có thể gọi là T.T.KH. hậu chiến ) xuất bản năm 1960, cách xa tình thơ tiền chiến mấy chục năm. xem ra khá lạ lẫm !. Chẳng hạn qua Sầu thu ghi lại mấy dòng đây ( gồm 10 bài liên hoàn ) phảng phất tâm sự rớt lại từ tiền chiến- tựa cửa ngóng trông người trở lại - rõ hơn : mộng vẫn bâng khuâng hình bóng cũ / ngoài song lành lạnh gió heo may ( gió heo may còn là gió thu)- hoặc : men rượu ân tình ai nhớ nhỉ / nừa như muốn tỉnh nửa còn say - vẫn chưa hết : gió chuyển thu về sầu vạn nẻo / mà người xa vắng vẫn không hay .
quả thật , Sầu thu dài dằng dặc, còn thấy qua 4 câu khác :
... Cho lòng dìu dặt chút men cay
Sống với chờ mong tự bấy chầy
Cứ tưởng xuân về hồng thắm má
Nào hay thu tới ủ ê mây ...
nhưng kết luận chính vẫn là :
... Mà người xa vắng vẫn không hay
Có thấy chàng Ngưu mắt lệ đầy
cái tâm sự ai oán này của T.T.KH. hậu chiến không dễ một sớm một chiều, một năm, nhiều năm - mà gần 30 năm vẫn còn nhớ ( tính từ ngày bài thơ đầu đăng vào 1937) - bài Sầu thu ( gồm 10 bài liên hoàn) sáng tác vào 1962 :
...Mái tóc sương pha cay đắng đủ
Làn da nắng sạm nhớ thương đầy
Tương giang một giải mênh mông nước
Ô thước đôi bờ vướng vít mây ...
và ở một câu trong bài thơ thu khác, tựa Thu hôm nay sáng tác năm 1964 có đôi câu- đọc lên - lại thấy mủi lòng ,so với mối - tình-thơ T.T.KH. :
... vẫn giấu trong tim một bóng người
(....)
... để khách tha hương mỏi mắt chờ
làm chúng tôi, người viết, càng bùi ngùi hơn, với mối-tình-thơ T.T.KH, rồi nhớ tới 2 câu thật tấm đắc của thi sĩ Thế Lữ- tạm kết thúc chuyện-tình-thơ T.T.KH. + THANH CHÂU :
... Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
Ngàn năm chưa dễ mấy ai quên ?
THẾ LỮ
và tôi tìm trong thơ Vân Nương về hình ảnh người chồng ra sao? có hay không?
có, thì : hình ảnh nảy mờ mờ ảo ảo, như người đi đêm, ẩn chìm lạt lẽo; mặc dầu thơ Vân Nương - T.T.KH hậu chiến nói về tấm chồng được khoác qua lốt xưng tụng là anh hùng, qua bài Nguồn sống.
người chồng Lê ngọc Chấn, luật sư tiếng tăm lừng lẫy , từng là bộ trưởng quốc phòng, từng làm đại sứ, bây giờ đây bất đồng chính kiến với chế độ Ngô đình Diệm - bị án tù 3 năm, được đưa ra Côn đảo - cuối 1963 đảo chính Ngô đình Diệm - năm 1964, người tù anh hùng được đưa về đất liền trên tàu hải quân mang tên Tiền Giang.
vì thế , thơ luận bàn chí hướng của Vân Nương nói về người tù anh hùng vì nước, vì dân kia , được phản ánh qua bài Nguồn sống ( trong tập Tơ sương), tại sao chưa tạo được sự đồng cảm lớn lao, như
thơ máu hoa tim T.T.KH. tiền chiến?
đọc giả đọc thơ tranh đấu Vân Nương trong tập Tơ sương không thể nhớ lâu, mà lại quên nhanh hơn, như chưa đọc , bởi những câu thơ như thế này :
...Các anh những con đường đầy chí hướng
Khinh gian lao và coi rẻ ngục tù
Chí ngang tàng giam hãm trọn ba thu
Đành ấp ủ mối căm thù Bạo chúa *
... Tàu cặp bến các anh từ Côn đảo
Trở về xây đắp lại tương lai
Những con người từng nếm mật nằm gai
Vì tổ quốc miệt mài gương chiến đấu ...
THƠ VÂN NƯƠNG
----
* ám chỉ tồng thống Diệm. (TP)
lối thơ gọi là thi cảnh ( poème tableautin) chẳng khác mấy bài văn vần rất khó cấu tạo thành thơ hay - nếu thơ ấy hay thật - thì chỉ có , với tác giả có bút pháp tân kỳ, nghệ thuật cao, mới lồng được ý tưởng làm thành thơ hay được! . Sẽ khác, lộ liễu ngay, so với tác giả non tay - tài chưa cao mà chí lại mọn - thì thơ tranh đấu chỉ là khẩu hiệu, chắp chữ, nối vần, gieo điệu sao cho đúng lập trường tác giả muốn , lại chẳng làm ai rung động.
vẫn những chữ : đầy chính hướng, đầy gian lao, căm thù bạo chúa, xây đắp tương lai, vì tổ quốc, vì giống nòi, con Rồng ,cháu Tiên v.v... vẫn chỉ là từ sáo rỗng, không hình tượng sống- hệt khẩu hiệu trên pa-nô treo ngoài đầu đường, xó chợ , mục đích quảng bá tới nhiều người , nhưng liệu có ai can đảm nhớ lâu hơn một khắc!
tạm lạm bàn về giá trị thơ Vân Nương, hoặc nói một cách khác- thơ nàng T.T.KH. hậu chiến - điều này chẳng tôn giá trị thi ca của bà lên cao hơn
.
đành khép lại ở đây, hết lòng tạ tôi, và để nói lên cảm tường chúng tôi về Vân Nương - hay là nàng T.T.KH hậu chiến :
' người mổ xẻ, phân tích thơ-thi-cảnh tả về sự xung tụng anh hùng, như trong bài thơ Nguồn sống trích dẫn trên kia - đây có thể coi như lần đầu cũng là cuối, chấm dứt cùng một lần.
Nếu vậy, hẳn là chỉ còn thơ T.T.KH. tiền chiến giá trị đích thực , với: Hai sắc hoa ti-gôn - Bài thơ thứ nhất + Bài thơ cuối cùng ... những bài thơ có sự sống phi thường, không chỉ ở thời tiền chiến mà kéo dài tới thời kỳ hậu chiến - vậy thì, nếu liệt vào kiệt tác cũng không ngoa !- của một người đàn bà từng làm rung động bao trái tim qua nhiều thế hệ, đủ sức chịu đựng một thời gian rất dài, rất dài; 50 năm sau và có thể còn lâu hơn nữa. Tác giả lúc ấy 17 tuổi: tuổi mơ mộng yêu đương bị khựng lại ,trước mối tình ngang trái, giúp cho T.T.KH. vượt nổi giấc mộng tình; rõ ràng là đau khổ, của thực tại khó quên, nhưng cũng nhờ giấc mộng tình lành và đẹp này, đủ đáp lại sự hy vọng mà tồn tại được - nếu đem so sánh với một đoạn đời văn chương của Guy deMaupassant ( 1850- 1893 ) : ' giàu mộng tưởng, giản dị , hiện thực giản dị, sâu sắc thì cũng chẳng sai ! ' * .
T.T.KH tiền chiến có khổ lụy cuộc tình, nổi tiếng qua mấy bài thơ tình hay nhất, êm ái chịu đựng, giải thoát cuộc tình khổ lụy kia, giải tỏa ẩn ức ẩn chìm.
có thể nói,. cơn mộng yêu đương của bà đã đáp lại lòng mong ước, rồi chàng sẽ hiểu **, kể cả chồng bà sẽ hiểu, người đời cũng sẽ hiểu .. tất cả sẽ hiểu được và cảm thông ... - và cái gọi là nếu biết rằng tôi đã có chồng - thì tình yêu ngang trái đau thương kia sẽ vợi đi, được vỗ về trong giấc mộng lành, dáp ứng sự mong ước - để bà còn tồn tạ được trong cuộc sống đời thường cho tới hôm nay.
và thơ của bà còn sống tới hôm nay, hẳn sẽ còn dài lâu hơn nữa ... vì T.T.,KH.:
"... đã có một chỗ đứng xứng đáng trong văn học Việtnam ở giai đoạn cực thịnh thơ mới về thể loại lãng mạn khổ đau ..." ( romantisme tourmemté).
( còn tiếp )
thế phong
-----
* " ...écrivain sobre, précis, profondément réaliste ..:( Le Petit Larousse)
" ... tôi chỉ còn yêu giấc mộng, chỉ có giấc mộng mà thôi, cơn mộng lành và đẹp. Thực tế không lam tôi chịu nổi, n1o sẽ dẫn tới sự hủy mình, nếu giấc mộng không đáp lại được lòng mong ước ấy .. ." ( Je n' ime pas que le rêve, lui seul est bon, lui seul est doux... La réalité implacable me conduirait au suicide si le rêve ne me permettait d' attendre ." ( ( Thanh Vân- Nguyễn duy Nhường dịch).
** Những cánh hoa tim - sđd - tr. 118- câu đề từ của truyện : " Hoa ti-gôn sắc đỏ , sắc hồng, sắc trắng năm nào cũng vậy, một mùa sau lại một mùa nở. Nó chẳng giống lòng bất trắc của con người. ( Khái Hưng / Gánh hàng hoa ).
.
Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013
nhà văn hậu chiến 1950 - 1956 / thế phong : linh bảo - 26
Tiết 3
LINH BẢO
Tiểu sử.-
Linh Bảo tên thật Võ thị Diệu Viên, sinh 14- 4- 1926 ở Huế. Chị ruột nữ sĩ Minh Đức- Hoài Trinh * , em gái nhà văn quân đội Thạch Hà ( Võ Sum) ., con gái tổng đốc Quảng Nam : Võ Chuẩn. 19 tuổi bắt đầu tập viết văn, truyện dài đầu tay; tập phóng sự ngăn Chồng chung ( bút danh Hương Thơ), kể lại thảm cảnh kiếp chống chung .
Năm 1945, thi sĩ Phan khắc Khoan ** dư định xuất bản tập ký sự này, nhưng xảy ra cuộc chiến tranh, bản thảo bị thất lạc.
-----
* MINH ĐỨC-HOÀI TRINH , tên thật Võ thị Hoài Trinh. Sinh ngày 15- 10- 1930 ở Huế, từng sống ở Liên khu IV, rối Saigon, và năm 1953 sang paris, sau sang Huê Kỳ. Trở lại Saigon 1963 một thời gian, viết báo Bách khoa, Văn nghệ tập san ( 1955).. Tác phẩm: Lang thang ( 1960), Thư sinh ( 1972), Bơ vơ ( 1964), , Thiên Nga ( 1965), Sám Hồi ( 1967), Trà thất ( 1974) v.v... Ban đầu ký Minh Đức, sau một tác giả nam ký Minh Đức, bà ghép tên thật vào bút danh
MINH ĐỨC-HOÀI TRINH.
** xem Thi nhân Việtnam / Hoài Thanh+ Hoài Chân, Nguyễn đức Phiên xb, Hanoi 1941 ).
Tác phẩm xuất bản:
Gió bấc ( Phượng Giang, Saigon 1952) ,Nhất Linh tuyển chọn - tác phẩm gíá trị văn chương có thể xếp ở hàng đầu bình diện văn nghệ hậu chiến, tac phẩm đầu tiên được gọi là tiểu thuyết chính trị đúng nghĩa. . Đóc tiểu thuyết La vingt cinquième heures La seconde chance / Virgil Gheorghiu *, hoặc La Chute, L'Exil & le Royaume/ Albert Camus.- đọc giả biết được hình tượng thời thế và chủ nghĩa chính trị áp chế đời sống con người diễn tiến ra sao ?
----
* tạm dịch: Giờ thứ hai mươi lăm, Cơ may lần hai đã được chuyển việt ngữ đăng báo, in sách. ( Chú thích sau )
Linh Bảo hiện làm việc tại Lãnh sự quán VNCH ở Hong Kong, Linh Bảo viết khà nhiếu truyện ngắn, ban đầu đăng trên tuần báo Mới ( chủ nhiệm: Phạm văn Tươi, Saigon, 1953). Tác giả cho biết tác phẩm bà viết ra, từ ngay thời kỳ đầu đến bây giờ, đọc giả vẫn tưởng bà là nhà văn nam.
chẳng có gì là ngạc nhiên, ngay ký giả cũng không hơn đọc giả- trước đây, trên tuần báo Việt chính
( chủ nhiệm Trần hồng Nam , Saigon 1955) ông Viết Tân ( Hồ Nam ) từng loan tin văn nghệ : " Gió bấc tiểu thuyết của nhà văn nam Nhất Linh mới xuất bản ... "
đọc Gió bấc hiểu được diễn biến tâm trạng tác giả đã hòa hợp bối cảnh chính trị, trong đó có cô gái sang Trung hoa du học rời va chạm với hoành cảnh xã hội Trung quốc ra sao ?
Phân tích tác phẩm chính.-
Truyện ngắn Linh Bảo đăng trên tuần báo Mới không có gì đặc sắc. Hơi văn dài hình như không phài để viết truyện ngắn, nói thế, chỉ có ý nói tác giả viết truyện ngắn thuở ban đầu không trội mà thôi . Sự nghiệp văn nghệ hiện của Linh Bảo là tiểu thuyết Gió bấc.
cốt truyện giản dị, nhưng bề sâu vô cùng sâu sắc. Nhân vật chính, một nữ sinh - cô Trang mắc bệnh xuyễn. nàng được sinh trưởng trong một gia đỉnh khá giả , có thể nói là gia đình phong kiến tư sản . Bà mẹ của Trang là người ít săn sóc tới con cái; mẹ Trang một đạo Phật cực điểm, nhiều khi tới cực kỳ vô lý, có lần đã làm hao sụt quỹ gia đình trầm trọng. Ba Trang về hưu, gai đình rời về miền quê sinh sống, nhưng không được yển ổn, bởi cuộc chiến bùng nổ gia đình lại tan nát, riêng Trang bị lạc. Tử đấy, nàng bắt đầu sống đời tự lập đầy gian cực nhọc, gian lao. Trong tâm trí Trang, nàng ấp ủ mộng đi du học, và lần này cơ hội tới , thế á nàng qua Hong Kong. Ở đây., mức sống cam go, khó khăn, bởi đồng đất nước người, nhưng, nhờ bạn bè đồng hương trợ giúp. Và Trang được đi nhiều nơi, nghe được chuyện , nhiều mẩu đời luân lạc. Trang còn mắc bệnh xuyễn, sinh kế eo hẹp, tiền bạc thiếu thốn, phải sốc vác tìm kiếm việc làm . Chủ một hiệu làm răng giả ỷ có tiền của, thấy người làm đẹp mắt , thường rủ đi dạo mát. Nàng từ chối thẳng thừng, nên bị đuổi việc, lại đau ốm trong khi thất nghiệp. Nhờ một đồng hương, tên là Bình săn sóc, sau ân nhân ngỏ lời cầu hôn và họ thành vợ chồng.
Cốt truyện giản dị, bố cục dàn bài , từng tiểu mục ghi chép lại nếp sống đã trải qua, các chế độ chính trị thay đổi. Sự ghi chép này rất bình thường, khách quan, như không thêm bớt ý tác giả, nhưng, thực ra ẩn chìm chủ quan định hướng đãi lọc rất khéo. Nghệ thuật viết tiểu thuyết luận đề rất thành công, thêm lối văn trong sáng, hấp dẫn người đọc. Ý tưởng , thái độ suy diễn trong tâm trí Trang được giãi bầy tương thích bối cảnh xã hội.
vào chuyện, tả cơn gió bấc thổi ở ngoài kia , đã lùa vào bệnh tật nhân vật chính như thế nào :
"... từ thuở bé cứ mỗi lần gió bấc thổi là Trang lại thấy lo lắng, sở hãi, như người sắp bị đem ra hành tội. Hơi gió lạnh từ từ thấm dần vào cơ thể người. Trang mệt nhọc như có một cái gì đè [ lên] ngực, làm hơi thở nàng gấp bị ức và nghẹn ngào. Từ trong phổ Trang, một âm thanh nhè nhẹ, nhưng những lúc gió bấc thổi mạnh hay ban ngày làm việc nhọc mệt, thì điệu đàn của nàng trở nên thống thiết vô cùng ..."
Trang bị bệnh xuyễn , nhất là vào đêm đông, khi mọi người ngon giấc, thì Trang lo lắng sợ hãi, như có một cái gì đè lên ngực khiến nghẹt thở. Tác giả tả thật thống thiết :
"... với Trang thì trái lại, nàng tưởng như dám đánh đổi mấy mùa hè sống bên cạnh một người không yêu, để được giâc ngủ ngon say trong một đêm đông có gió bấc thổi, cạnh một người yêu ..."
người cha liêm khiết, một ông bố tốt trong sạch, Linh Bảo nhìn bố với con mắt giễu cợt, giọng văn mai mỉa :
"... trong làng quan trường, người ta làm thế để thăng quan tiến chức thì ba trang chỉ biết cố gắng làm việc và cố gắng hơn,[ thì] ông càng chậm thắng quan tiến chức. Cái giá trị độc nhất của ông là sách và thuốc lá ..."
tả người mẹ quý cháu hơn con, thêm tính đồng bóng, tác giả nhận xét tỷ mỷ từ giọng nói quen thuộc, đúng như thành ngữ mô tả :
"... còn mẹ Trang cả ngày chỉ lo thu và thu vén bớt sự tiêu pha, ăn mặc, và tần tiện cả tình thương của các con để chia cho bọn em và cháu mồ côi. Những giờ phút rảnh rang, bà chỉ đi chùa, đi đền. Tu bổ chùa này miếu nọ, cùng ăn mặc cho các thầy tu, bà vãi; đó là cái thích duy nhất của mẹ Trang. ' Người ăn thì còn con ăn thì mất '.."
tả anh em, họ hàng ham mê ăn uống, dựa vào tinh thân thuộc với ba mẹ Trang, nhớ ngày giỗ kỵ và thuộc lòng như vẹt. Linh Bảo có giọng văn giễu cợt, châm biếm sâu cay :
"... bọn Trang đặt cho ông bác họ cái nên ấy chè, xôi, chuối thực không ngoa , vì nhà ai có chuối, chè, xôi là thấy bóng ông cắp ô đến. Ông thuộc vanh vách nhà ai, ngày nào có giỗ to hay giỗ nhỏ, giỗ ông nội, ông cố, ô ng tứ đại ngũ đại gì từ đời ma nào ấy. Nếu con cháu có nghĩ rằng các cụ chết còn đòi quà chắc đã đi đầu thai ráo cả; thì ông đến nhắc : " Anh nói mới vô lý chứ!. Không có ông bà sao lại có mình !..."
đến giai đoạn cách mạng bùng nổ, gia đình trang lại thêm tan nát. Nàng bị bắt với số tiền thật lớn không phải của gia đình, mà số tiền kia có được, là nhờ được hưởng hoa hồng từ lái buôn thuốc phiện chia phần. Nàng muốn dùng số tiền ấy đi du học, nhưng mộng dang dở, khi trang nghĩ đến :
"... Trời hỡi ! Trang tự mắng thầm mình tại sao lại ở trong cái giai cấp không may ấy ! Mà ngót 19 năm trời làm con quan, Trang đã được hưởng những gì và đã làm ra cái tội gì ...?
ở trong tù, nhớ gia đình, tác giả qua nhân vật Trang tưởng nhớ lề lối, cách sống ,giáo huấn của mẹ ngày xưa :
"... mày muốn khôn hơn tao à ? Con gái học [ cho] lắm [ cũng] vô ích, nhiều chữ có nấu chữ mà ăn được đâu, con gái học cho nhiều chỉ tổ cứng đầu cứng cổ, viết thư cho trai,[ chứ] được
ích gì ...?"
lúc ấy Trang tinh nghịch, nghĩ thầm:
"... viết thư cho trai cũng chẳng xấu, nếu đến thư cho trai cũng không viết được, phải nhờ người viết hộ mới xấu chứ ...?"
không chỉ trích ba mẹ, tác giả không cho nhân vật nói thành tiếng, mà chỉ là ý tưởng phản ứng thầm - nhưng vẫn đúng - ấy là đoạn dưới đây - tả về tình thương một người mẹ phương đông đáng kính :
"... sự thực, tình thương con của mẹ Trang cũng nồng nàn, nhưng tình thương ấy chỉ biểu lộ ra với những đưa con ở xa, những đứa con của một đời khác và bây giờ tự nó có riêng một cuộc đời. . Những lúc ăn, lúc ngủ; không lúc nào mẹ Trang không nghĩ đến những đứa con xa xôi ..."
Linh Bảo không quên từng mẩu chuyện nhỏ rất dí dỏm trong bữa ăn gia đình xa xưa, tác giả viết lại với giọng châm biếm nhẹ nhàng, lại rất đanh thép :
"... ông cụ Phú thế mà biết quý vợ đáo để, hôm qua ông ấy nói với bà trước mặt tôi :" nếu ai đúc một con người vàng, to bằng người thực mà đổi [ thì ] tôi cũng không đổi ..."
ba của Trang nghe được, bật cười , bảo :
"... Thế sao mình không hỏi; " nhưng nếu là một con người bằng xương thịt thực thụ, chứ không phải bằng vàng, trẻ hơn bà cụ những 15 tuổi và chỉ béo bằng nửa cụ bà thôi, thì [ ông] cụ
nghĩ sao ..?" ... chi em Trang đều cưới ủng hộ ba, còn mẹ Trang thì có vẻ tức bực lắm !..."
người đọc còn thấy được tính nông nổi dễ tin các bà ưa nịnh - tính đàn bà này khá điển hình, chẳng hạn những pha làm nũng chồng rất thực thà trong sự vụng về, ấy là, đoạn tả Trang bị bắt giam, ở chung với nhiều hạng người :
"... À, tam dân à, tam là ba, dân là dân. Tam dân là dân có ba thứ: một là quan, hai là nhà giàu, ba là thường dân."
mỉa mai rất tế nhị đối vơi người biết ít lại thích khoe, đúng châm ngôn phương tây: thùng rỗng kêu to ( les tonneaux vides font des bruits ) và tả cái ghen của vợ ông tuần phủ, tác già có giọng văn hài hước rất riêng
"...tôi đến thăm anh chị với mục đích xin anh chị 1 đứa con. ( Trang vội vã chạy đi, loan báo cho tất cả anh chị em bết cái tin ghê gớm ấy và người nào cũng lắc đầu ):
- Không, em không đi theo cái bà Sài Gòn ấy đâu ?
- Em cũng không, em ở nhà cơ.
Đêm hôm ấy, Trang ngủ bỗng giật mình thức dậy, ngạc nhiên thấy mẹ mình nằm cạnh, ôm chặt lấy mình [ rồi] mê hôn Trang - nhưng, sao mặt mẹ lại ướt đẫm cả nước. Trang úp mặt vào lòng mẹ ngủ lại, vơi cái kiêu hãnh được ngủ với mẹ, vì mẹ thường ngủ với ba cơ mà ... Mãi về sau, Trang mới hiểu, bà ấy xin một đứa con chưa đẻ để bà đẻ cơ. Và Trang mới hiểu tại sao đêm ấy mắt mẹ Trang lại ướt ...'"
không là chuyện đời mình sống trải, hẳn ít ai ngờ đến trường hợp đó. Nhớ là tiểu thuyết Gió bấc là tự-sự-kể ở ngôi thứ 3 - mà Linh Bảo đã gửi gấm trong văn chương tự sự ' Gió bấc'. Qua tiểu sử tác giả, năm 19 tuổi 1945, bị bắt, nàng than :".. Trời hõi ! Trang tự mắng thầm mình sao lại ở trong giai cấp không may ấy. Mà ngót 19 năm trời làm con quan, Trang đã được hưởng những gì và đã làm những cái tội gì .."? ( trang 28) . Rõ ràng nhà văn viết tự- sự tả tâm lý thật cừ ,và tác giả được đọc giả yêu thích như đọc tác phẩm văn chương chính trị Một linh hồn / Thụy An- Hoàng Dân.
chỉ một cảnh nhân vật tự xách thau ra hồ để tắm, khi hàng xóm đã ngủ cả, đó là cảnh du học sinh sống cơ cực bước đầu ở Hong Kong :
"... trong cái hoàn cảnh đó, Trang phải dẹp cái tiểu thư của mình lại; chiếc thùng tắm nhỏ cũng không dám mua, mỗi đêm đợi đến 11 giờ, hàng xóm ngủ cả, rồi mới dám xách thau ra hồ để tắm . Chung quanh nhà chỉ vài chục thước, là có cái hồ nước trong xanh, bên bờ đầy những liễu rủ. Những hồ nước công cộng cả xóm, bn ngày là rửa mặt, rửa rau, vo gạo, giặt áo av2 ban đêm là tắm rửa ..."
thực trạng xã hội Trung hoa dưới thời Tưởng giới Thạch - kinh tế tụ túc yếu kém ,chỉ trông chờ ngọai viện và tình hình chinh trị quốc nội bị chi phối mạnh, kể cả hạ tầng cơ sở. Tác giả tả thực cảnh trạng đó, kể cả hành động chính trị biến thái qua tiểu thuyết, nói lên hiện cảnh sa sút nền phong kiến Trung hoa đang dần lao xuống vực thẳm :
"... những ngày êm đềm quá, tiếp đến là những ngày sóng gió. Vì nguồn kinh tế bấp bênh của nước Tàu, trong tay nắm một mớ giấy bạc, hôm qua còn đáng giá một tạ gạo, sáng mai có khi chỉ còn một đấu bắp ngô. Giá thực phẩm và giá trị đồng bạc cứ theo với các trận đánh nhau, thắng hay bại mà lên xuống. Cộng quân sắp sửa đem quân vây Nam kinh. Giá gạo tăng lên vùn vụt. Bạc giấy chỉ giá trị như một mảnh giấy thường nhỏ bằng hình dáng của nó..."
kết cục, quân đội Tưởng rút lui, vẫn không quên hối lộ, bệnh làm tiền lẫn nhau càng phát khởi mạnh hơn bao giờ, tác giả ghi lại, đọc lên , thấy chua chát, và dễ dàng hiểu tại sao quân lính Tường thất trận nhanh chóng đến vậy :
"... Trang còn nhớ đêm hôm ấy, cả bọn đều ngủ ngồi trên xe trong một khu rừng, vì chiếc cầu đắng trước đã bị phá. Đoàn xe hơn 90 chiếc phải từ từ lội xuống sông. Tính ra ngày mai mới đến lượt xe Trang; vì mỗi chiếc qua sông mất đúng 15 phút. Nhớ đến một tỉnh nào, họ cũng lấy phần lương thực gấp 5, 7 số người. Trang không hề thấy có sự điều tra hay khám xét nào, nên nàng biết rằng các quan đã có ăn cánh với nhau để bóc lột chính phủ. Số xe độ 100 chiếc thì họ khai 500 và lãnh đủ dầu xăng, lốp xe và các phụ tùng khác. Cứ mỗi khi đến một tỉnh nào, mấy đêm đầu Trang cũng không ngủ được vì đêm các quan mới cho lính lăn các thùng dầu xăng ầm ĩ cả lên. Thì ra họ gửi bớt đi, đổi lấy vàng mang theo cho nhẹ. Không những gửi số dầu thừa, họ còn gửi cả một nửa số cần dùng, khi xe chết nằm lì bên đường trong một khu rừng hay ngọn đèo nào đấy, họ phái một chiếc xe con đi báo tin cho một địa phương gần nhất cho dầu xăng đến cứu. Còn một cách làm tiền nữa là nhặt nhạnh những hành khách chạy loạn trên đường. Cứ một đồng cân vàng hay 6 đồng bạc là có thể đi được một quãng đường độ 50 cây số ..."
tả cảnh khổ của nhà cách mệnh Việtnam, kẻ chiến bại có tên Nguyễn hải Thần, hoặc những ai chung cảnh ngộ : chôn vùi lý tưởng ở hải ngoại không hẹn ngày về, dưới mắt nữ văn sĩ Linh Bảo: cảnh khổ nào kia vô cùng bẽ bàng, thảm hại ! để rồi thương xót cảnh lên voi xuống chó- một điều nhà cách mạng thất thời thì thất thểu chăng ai là không biết . Và Nguyễn Bính thi sĩ chỉ làm thơ trữ tình, vẫn không quên thân phận họ, thốt lên qua 2 câu thơ tuyệt vời ; Hỡi ai đi gió về mưa có gây dựng nổi cơ đồ gì không ? người đọc biết thêm được kết luận sẽ đi về đâu, dầu rằng tác giả không khêu ra, thì họ vẫn tự lĩnh hội được :
"... cả bọn kéo đến thăm cụ Nguyễn * , người đã có cái lịch sử cách mạng hơn 40 năm, nhưng nay chỉ là một ông cụ già nghèo nàn, hai mắt gần như mù, sống với một bà vợ Tàu trẻ và một đàn con lớn có, bé có. Cụ cất giọng sang sảng:
- Các anh làm thế nào chạy hộ tôi 10 đồng, nếu không, thì 8 hay 6, 4 , cùng là, thì 2 đồng cũng được .
Lúc Trang hỏi thăm đàn con, cụ trả lời :
- Ấy, các cháu đi đánh du kích cả .
Trang ngạc nhiên hỏi:
- Thưa cụ, đánh du kích ở đâu ? Nhưng các anh chị ấy còn bé lắm cơ ?
Cụ cười:
- Không , đây là tiếng riêng của chúng tôi. Hôm nào nhà có gạo thổi cơm ăn thì gọi là lục chiến, nấu được cháo là thủy chiến không có gỉ là không chiến. Còn nếu không chiến lâu quá thì chây sang các nhà hàng xóm quen biết ăn, đấy là đánh du kích .
Lúc từ giã căn phòng tối tăm bé nhỏ chỉ vừa đủ để 1 cai giường và còn thừa 1 tí làm chỗ để chân, thấy Trang có vẻ ngậm ngùi, Vũ bảo :
"... khi xưa cụ cũng đã có một thời kỳ oanh liệt, tiếc vì cụ chỉ có lòng mà không có tài, vả lại có nhiều quân sư quạt mo quá. Giá cụ cứ nghe lời 1 người thôi thì chẳng đến nỗi nào, nhưng cụ lại nghe tất cả, thành ra cái gì cũng không thành. Hôm cụ nghe lời quân sư này ủng hộ nhóm này, ngày mai cụ lại nghe lời quân sư khác mà đả đảo họ, mời phóng viện các báo[ rồi ] tuyên bố ầm ĩ lên, nhưng ngày kia cụ lại nghe một quân sư khác nữa mà viết thư xin lỗi ..."
------
* Nguyễn hải Thần ( BT)
mổ xẻ nột tâm con người , Linh Bảo cũng tỏ ra rất tinh tế, lại xuất sắc là khác ! Khi đàn ông yêu đàn bà, họ có cảm tưởng người ấy riêng thuộc về họ; đâm ra xoi bói nết xấu như không muốn họ đươc ân huệ để yêu người đó mãi; hay đúng hơn yêu người ấy, được danh dự phần hơn về mình. Còn yêu được dễ chán, được yêu họ coi là diễm phúc, chẳng qua đó là tâm lý thèm yêu và khát vọng yêu thì vô biên ! Đoạn văn rất tâm lý, Linh bảo tả nhân vật nam tên Vũ, anh ta tưởng mình đã yêu được Trang, nên tự ý như muốn dãy ra :
"... Đàn bà sinh ra là để làm nô lệ cho đan ông, ai mà yêu tôi thì [ sẽ ] đau khổ. Tôi rất ghét và ghê sợ đàn bà Người đàn bà nào mà dây vào tôi thì đến khổ cả đời ..."
Trang vào đại học được ít lâu, thì chế độ thay chủ, tác giả tả về chế độ mới :
".. trường đổi hiệu trưởng, đổi giáo viên, đổi khóa trình. Các bạn trai đầu để bù, giày không dám đánh bóng, áo giặt không là *. Những món tóc quăn theo lối Âu Mỹ của các bạn gái bị nhát kéo vô tình cắt ngắn biến thành lối tóc thợ thuyền và những chiếc áo dài tha thướt do các tay thợ khéo ở Hương Cảng ** cắt hay những chiếc váy đầm màu sắc rất trẻ trung được xếp xuống tận đáy hòm, thay vào bằng chiếc quần vải xanh, theo lối công nhân trong xưởng máy. Ánh thái dương tắt rồi, mọi người đang lần mò một lối đi thích hợp với thời đại mới dưới ánh sao ..."
----
* ủi ( tiếng miền Nam )
** Hong Kong.
sinh viên ngoại quốc đối với chế độ mới, họ khôn ngoan hơn khi đối đáp - Linh Bảo thản nhiên bàn về chủ nghĩa Cộng sản bao hàm nhiều hình ảnh đới sống mới :
"... chúng tôi tuy là do chính phủ Nam Hàn * phái đến, nhưng tâm hồn chúng tôi vẫn gửi ở
Bắc Hàn ** từ lâu.
và hơn nữa, họ rất chịu khó học thuộc lòng mấy đoạn sách tiến bộ, hể có dịp là đọc một thôi không ngừng: ' Mao chủ tịch bảo rằng... Lênin bảo rằng... Xit-ta-lin bảo rằng ... '
-----
* Hàn quốc
** Triêu tiên
tự mổ xẻ thời quá vãng, phủ nhận thời quá vãng, ở con mắt nhìn tiến bộ hôm nay, tất cả mọi người thể hiện - vậy thì - sinh viên nước ngoài phải thực hành gắt gao hơn để tỏ sự trung thành :
" ... nhưng dù khéo léo đến đâu cũng không thoát khỏi sự nghi ngờ. Cả bọn đều bị kiểm soát rất nghiêm khắc về tất cả mọi phương diện. Mỗi người phải khai 1 bản lai lịch như một cuốn tự truyện từ lúc mới lọt lòng, không được bỏ soát một năm tháng nào, và điều quan trọng nhất là hiện thời lấy tiền ở đâu mà tiêu ? Sau khi quá lao lực và không đủ khả năng sức khỏe, sinh viên mắc bệnh lao ..."
... Vì tất cả các duyên cớ có bệnh lao lan truyền rất nhanh chóng, lúc đầu chỉ mới 40 người, đã tăng lên hơn 100 học sinh bị, thường khạc nhổ bậy bạ một cách tự nhiên . Riêng Trang, lo sợ hơn ai hết, vội vã đi chiếu phổi và lúc kể lể với người bác sĩ già cái bệnh tiếng đàn đêm đông* của mình, ông ta chỉ gật gù mỉm cười. " Dìn đường pách chúc / không đủ chất bổ mà thôi ". Và lúc Trang đến được phòng lĩnh thuốc mới ngẩn người ra, vì cái đơn, ông ta cho Trang là 100 viên vitamine ..."
-----
* bệnh xuyễn
chán vì bệnh tật, càng chán hơn đối với bệnh thời đại, từ chế độ Tưởng thống chế Quốc dân đảng đến chủ tịch Mao trạch Đông, thật ra con người ấy muốn gì trong tiểu thuyết tự-sự Gió bấc? Có thể, Linh Bảo muốn ẩn mình trong 1 tôn giáo nào đó, như tác giả Faux passeport / Plisnier *, hoặc Malraux / Les conquérants ** hoặc La voix du silence *** trực tiếp đầu hàng tôn giáo, hay làm một René Hardy **** từ Amère Victoire đến Le fer de Dieu - tranh chiến mỏi mệt , cuối cùng qui hàng tôn giáo . Nhân vật tiểu thuyết ẩn mình tác giả ớ Gió bấc chưa chịu khuất phục tôn giáo đề được an ủi như mạ ngày xưa ? Với Trang , ưa thích màu nhiệm cuộc sống để như được an ủi tương thích :
----
* tạm dịch : thông hành giả - ** những kẻ chinh phục - *** tiếng nói của im lặng - **** chiến thắng ảm đảm & thanh sắt của Trời .
"... ngày ngày nghe mãi những lời ngọt ngào của bà xơ đạo đức trinh trắng dẫn dụ, lắm lúc lòng Trang cũng thấy xiêu xiêu. Thế nhưng, những buổi chiều ngồi trên bờ biển cả, nhìn các tàu đi lại, Trang thấy tiếng con tàu hấp dẫn Trang còn mãnh liệt hơn điệu hát cầu kinh trong nhà thờ ..."
người nữ này có bàn tay không đẹp, nhưng tình yêu không hẳn không theo định luật trời đất, vẫn tùy hợp kết thành đôi lứa vợ chồng - chế độ ký giaokèo chung sống để an ủi nhau, quên chặng đường mệt nhọc trường đời . Đôi khi, vì bi quan, muốn ẩn mình nương nhờ tôn giáo, nhưng sao tôn gíáo chưa thắng ? Vậy thì đúng là tình yêu thắng thần chết, như Maxime Gorki quan niệm :
"... hôm nay chủ nhật, sao anh không đi chơi ?
Bình cười rất thực thà :
-Tôi đến đây chả phải đi chơi là gì ?
Với lại mỗi lúc ra cửa, chân tôi hình như chỉ muốn đưa đến đây, rồi thôi không muốn đi đâu nữa .
Trang không trả lời, mắt Trang hình như mờ đi, và nàng không chống cự, khi thấy Bình để tay nàng lên môi ..."
Kết luận .
Gió bấc có nhiều cảnh tả tình đẹp, giản dị, thành khẩn, cảm động, hòa hợp tình yêu, không gò bó. Tác giả lên án chế độ quan lại thối nát mà chính Trang được sinh ra từ trong cái nôi ấy, qua lối diễn tả đối kháng mạnh mẽ. Có thể cho là khuyết điếm ở đôi chỗ, khi tác giả dùng chữ chưa propre chăng ? - dùng chữ gíáo viên cho gíáo sư dạy đại học, học sinh học ở bậc đại học đúng phải gọi sinh viên * - tôi e không phải tác giả không biết, nhưng được gọi là khuyết điểm thì chỉ là khuyết điểm nhỏ nhặt không đáng kể.-và Linh Bảo vẫn là nhà văn nữ giá trị hàng đầu , viết tiểu thuyết chinh trị hay như Phạm Thái / Năm người thanh niên của văn học hậu chiến .[]
---
* chính tôi mới là kẻ mắc khuyết điểm, khi không biết rằng : trong nền giáo dục mác xít ở Trung hoa đại lục không phân biệt giáo viên ( bậc trung + tiểu học ) hay giáo sư ( đại học) - mà cào bằng vai trò giáo viên cho suốt chương trình tiểu, trung đến đại học. ( TP chú thích sau ) .
( kỳ sau : Triều lương Chế )
thế phong
Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2013
thơ phạm thị cúc vàng / cụm hoa tình yêu tập XIV - 2012
phạm thị cúc vàng
1. riêng xanh không còn
một
Vậy là em đã mất anh
đâu còn một khoảng mỏng tanh yên bình
em yêu anh - mối chân tình
sao vội tắt giữa bình minh rạng ngời
là thơ vàng rụng tả tơi
vắng anh nhạc cũng buông rơi giữa dòng
đá buồn bật khóc chiều đông
hai
Anh đâu có mỗi mình em
mà lo xậy mộng biến đêm thành ngày
nhễu vào khoang lặng giọt say
của trời của đất đọa đầy, thôi em
cuộc tình giờ đã lấm lem
mang ngày trả lại cho đêm loang buồn
đá sầu ướt sũng mưa tuôn
2. trái tim nhỏ xíu
Trái tim em nhỏ xiu xiu
nứt ra muôn mảnh qua chiều rơi nhanh
nàng thơ áo lụa mong manh
khoác lên mấy trắng dạo quanh bầu trời
trái tim sao rối bời bời
quàng xiên nhịp đập rung lời yêu anh
ghé ngày vội chút nắng hanh
là thuyền em đã tròng trành bến xa
3. nhập cuộc
Cám ơn tình chợt no nê
cám ơn người chẳng bên lể cuộc chơi
cám ơn thượng đế cho tôi
mỗi mai thức giấc biết đời có anh
cám ơn tính đẹp như tranh
yên bình mỗi bận tàn canh tìm về
thơm da mùi tóc vân vê
chăn nhòa hương gối đêm thề cho nhau
P.T.C.V
PHẠM THỊ CÚC VÀNG
tên: phạm thị cúc vàng.
bút danh : cúc vàng
sinh nhật : 4 tháng 1
nghề:
làm việc ở Công ty thực phẩm Phú Cường An Nghiệp Saigon.
làm thơ từ thuở còn là học sinh.
đã xuất bản:
tiếng chim & nhánh rẽ ( saigon, 2009)*
ẩn dụ tiếng đêm ( saigon, 2000)
lục bát cúc vàng, ( saigon 2012)
góp mặt : in thơ trong cụm hoa tình yêu tập XIV
hội thơ tài tử việtnam hải ngoại xb, USA , 2012.
tham dự : đại hội thi ca quốc tế lưỡng niên - kỳ VIII tại Dallas.
hiện sống tại saigon.
-----
* không ghi tên nhà xuất bản , liệu rằng có bán ngoài thị trường , hoặc chỉ phổ biến hẹp . BT
( trích: cụm hoa tình yêu, tập XIV- do như hoa- lê quang sinh ấn hành ở Huê kỳ, 2012.
( tr . 254, 55 )
1. riêng xanh không còn
một
Vậy là em đã mất anh
đâu còn một khoảng mỏng tanh yên bình
em yêu anh - mối chân tình
sao vội tắt giữa bình minh rạng ngời
là thơ vàng rụng tả tơi
vắng anh nhạc cũng buông rơi giữa dòng
đá buồn bật khóc chiều đông
hai
Anh đâu có mỗi mình em
mà lo xậy mộng biến đêm thành ngày
nhễu vào khoang lặng giọt say
của trời của đất đọa đầy, thôi em
cuộc tình giờ đã lấm lem
mang ngày trả lại cho đêm loang buồn
đá sầu ướt sũng mưa tuôn
2. trái tim nhỏ xíu
Trái tim em nhỏ xiu xiu
nứt ra muôn mảnh qua chiều rơi nhanh
nàng thơ áo lụa mong manh
khoác lên mấy trắng dạo quanh bầu trời
trái tim sao rối bời bời
quàng xiên nhịp đập rung lời yêu anh
ghé ngày vội chút nắng hanh
là thuyền em đã tròng trành bến xa
3. nhập cuộc
Cám ơn tình chợt no nê
cám ơn người chẳng bên lể cuộc chơi
cám ơn thượng đế cho tôi
mỗi mai thức giấc biết đời có anh
cám ơn tính đẹp như tranh
yên bình mỗi bận tàn canh tìm về
thơm da mùi tóc vân vê
chăn nhòa hương gối đêm thề cho nhau
P.T.C.V
PHẠM THỊ CÚC VÀNG
tên: phạm thị cúc vàng.
bút danh : cúc vàng
sinh nhật : 4 tháng 1
nghề:
làm việc ở Công ty thực phẩm Phú Cường An Nghiệp Saigon.
làm thơ từ thuở còn là học sinh.
đã xuất bản:
tiếng chim & nhánh rẽ ( saigon, 2009)*
ẩn dụ tiếng đêm ( saigon, 2000)
lục bát cúc vàng, ( saigon 2012)
góp mặt : in thơ trong cụm hoa tình yêu tập XIV
hội thơ tài tử việtnam hải ngoại xb, USA , 2012.
tham dự : đại hội thi ca quốc tế lưỡng niên - kỳ VIII tại Dallas.
hiện sống tại saigon.
-----
* không ghi tên nhà xuất bản , liệu rằng có bán ngoài thị trường , hoặc chỉ phổ biến hẹp . BT
( trích: cụm hoa tình yêu, tập XIV- do như hoa- lê quang sinh ấn hành ở Huê kỳ, 2012.
( tr . 254, 55 )
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)