bài thơ mới , văn quang viết năm 2000.
lời tiễn biệt
thơ văn quang
GỬI CÁC BẠN TÔI VÀ THU HƯƠNG
\ TRONG NGÀY CHIA TAY
Tống biệt hành xưa ai nhớ ai ?
Người đi xa cách núi sông dài
Tiễn biệt hôm may chừng vĩnh biệt?
Tình sử đôi ta khép lại thôi !
Nước mắt đã dư, hận đã thừa,
Tình yêu còn lại chuyện ngày xưa.
Ba mươi năm cũ đời dâu biển
Gặp lại bây giờ vẫn đón đưa.
Giọt đắng chia đôi đã vội đầy;
Cười khan cho ngọt một hôm nay,
Ngày mai em lạc phương trời khác
Ai uống cùng em nỗi đắng cay ?
Mỗi kẻ đi theo một hướng đời,
Buồn vui biết lấy một mình thôi.
Ta về gác tối nhìn sao lạc,
Em ở phương trời đếm la bay
Không hẹn không chờ nữa nhé em
Vui chi chiếc bóng ngả bên thềm !
Mai này chỉ có con tim thức,
Sống với tình xưa và bóng đêm.
SAIGON 4-4-2000
văn quang
( Bđd : tác giả ghi, ký tên' BẢN THẾ PHONG' )
Lời dẫn.
Ánh Nguyệt [RFI, đài Pháp quốc hải ngoại RFI, 16 Nov. 2001- France] bình :
'... Với Ngã tư hoàng hôn hôm nay, có một nhân vật thời trai trẻ Văn Quang xuất hiện trở lại, nhưng đó là con người đã nếm mùi chua chát của cuộc đổi đời . Họ sống như đang đứng trước một ngã tư lại là một ngã tư trong buổi chạng vạng chiếu ...'
Đài Á chân tự do [RFA] giới thiệu tiểu sử đầy đủ, trang trọng hơn :
'... Nhà văn Văn Quang tên thật là Nguyễn quang Tuyến, sinh năm 1933 tại Thái bình. Năm 1953, gia nhập quân đội Quốc gia, phục vụ nhiều đơn vị, trước hiệp định Genève 1954. Từ 1969 đến 30-4-1975 là quản đốc Đài phát thanh quân đội, cấp bậc trung tá. Văn Quang sáng tác trên 50 tác phẩm, hầu hết là truyện dài, trong số đó, có những tác phẩm từng gây sôi nổi như Nét môi cuồng vọng, Nguyệt áo đỏ, .. đặc biệt có 4 tác phẩm được chuyển thành phim, từ 1962 đến 1972, là, Ngàn năm mây bay., Chân trời tím, Đời chưa trang điểm, và Tiếng hát học trò..'
và, tác giả trả lời Thạch Miên : RFA, 22 Sept. 2001- USA,]
'... và tôi [ Văn Quang] cũng xin nói rằng cuốn sách của tôi, Ngã tư hoàng hôn, không phải viết cho các nhà phê bình, cũng không phải viết cho người ở bên này hay người ở bân kia, mà, chỉ thu mình đứng trên nóc nhà mình, nhìn sang cả hai bên sân ... Đó là quan điểm chính của tôi ..'
trong số lóc nhóc các cựu phu nhân ở hải ngoại về tp. HCM thăm cựu phu quân, có cựu ca sĩ Thu Hương và, có lẽ , rất cảm động tình xưa nghĩa cũ như thể còn mặn nồng - chàng văn sĩ Văn Quang viết bài Lời tiễn biệt trên chăng ?
ĐINH BẠCH DÂN
SAIGON, DEC 23, 2013
------
Tái bút :
Nguyễn Khôi ( 1938 - ) làm thơ rất nhanh, họa ngay' Lời tống biệt / Văn Quang' , chỉ sau vài giờ được posting lên Blog Thế Phong. Vốn sinh trưởng ờ miền trung du, Yên bái xa lắm em ơi ! ' - có lần nổi hứng giang hồ - chàng ta rủ rê phu nhân về thăm' nơi sinh ra, anh giờ là của em ' - và - 'chúng ta cùng đứng trên cầu Âu Lâu ngắm sông Hồng đục ngầu cuộn sóng ..! '
Khôi Nguyễn
tới tôi, Ly ...
LỜI TỐNG BIỆT
( họa thơ Văn Quang
tặng T.P. )
'Tống biệt hành' xưa chẳng còn ai
Nay, lời tiễn biệt suốt đêm dài
Tống tiễn hôm nay là hủy diệt
Tình đời bạc bẽo thế cả thôi !
Mắt đã mờ đau, cực đã thừa
Tình yêu đã chết nhớ chi xưa
70 năm trải qua mùi dâu bể
Còn gì đâu nữa để đón đưa ?
Đất nước chia đôi ' hợp' chứa đầy
Lòng người đôi ngả mãi hôm nay
Ngày xưa xa ngái ... em xa mãi
Một mình độc ẩm chén chua cay
Tứ tán người đi mọi ngả đời
đều là ảo vọng vậy cả thôi
Ta về bó gối trong chiều tối
vọng em đếm lá ở phương trời
Thôi, chẳng hẹn chờ chi nữa em
Còn chút tình thơ tựa bên thềm
Trái tim hóa đá... lơ- mơ mộng
Để hồn thơ thẩn lạc trong đêm ...
HÀNỘI 23- 12- 2013
nguyễn khôi
Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2013
Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013
t.t.kh. nàng là ai ? thế nhật [thế phong] - 7
t.t.kh. nàng là ai? thế nhật [thế phong]
văn hóa thông tin tái ban, hànội, 2001
6. t.t.kh...
hoài thanh + hoài chân
Hồi tháng 9 - 1937, Tiểu thuyết thứ bảy đăng một truyện ngắn của ô. Thanh Châu; Hai sắc hoa ti-gôn. Ít ngày sau , tòa báo nhận được một bài thơ nhan đề: Bài thơ thứ nhất, rồi lại nhận được một bài nữa
Hai sắc hoa ti-gôn. Hai bài ấy đều ký T.T.KH. và đều một nét chữ run run. Từ đấy, tòa soạn Tiểu thuyết thứ bảy không nhận được bài nào nữa và cũng không biết T.T.KH. ở đâu ?
Nhưng, sau khi bài thơ kia đăng rồi, xóm nhà văn bỗng xôn xao. Có mấy người nhất quyết T.T.KH. chính là người yêu của mình. Và, người ta đã phê bình rất nồng nhiệt,. Có kẻ không ngần ngại cho 2 ba2it hơ ấy là những áng thơ kiệt tác.
Nói thế đã đành là quá lời , nhưng, trong 2 bài thơ ấy cũng có những câu thơ xứng với vẻ lâm ly của câu chuyện cô bé T.T.Kh. yêu. Người yêu của cô có nét mặt rầu , và, có lẽ đã đọc nhiều văn Từ Trẫm Á. Cô bé kể : Những buổi chiều thu, đứng dưới giàn hoa ti-gôn :
... Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui;
Bảo rằng :' Hoa giống như tim vỡ *
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi !
-------
* có bản chép :' Bảo rằng :' hoa dáng như tim vỡ '.
Cô bé ngây thơ không tin. Ai ngờ lời nói văn hoa kia bỗng thành sự thực. Chàng đi ...
... Ở lại vườn Thanh có một mình,
Tôi yêu gió lạnh lúc tàn canh,
Yêu trăng lạnh lẽo rơi trên áo
Yêu bóng chim xa, nắng lướt mành
Và một ngày kia tôi phải
Cả hồng tôi nữa lúc đi theo
Những cô áo đỏ sang nhà khác !
-Gió hỡi làm sao lạn h rất nhiều ?
Ngày ấy là ngày buồn nhất trong đời nàng :
Người xa xăm quá - Tôi buồn lắm
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường
Từ đó mùa thu qua, rồi, mùa thu qua . nàng vẫn luôn luôn tưởng nhớ,. nhưng, tin buồn chàng nào có hay; cho nên, nàng tự hỏi :
Nếu biết rằng tôi đã có chồng
Trời ơi ! Người ấy có buồn không ?
Một nỗi đau đớn trần truồng, không ẩn sau Liễu Chương Đài, như nỗi đau đớn của nàng Kiều ngày trước :
Cành xuân đã bẻ cho người chuyền tay !
Cho đến hôm nay, xem chuyện tình, tình cờ lại thấy cánh hoa xưa. Nàng không sao cầm lòng được :
Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
Nhỏ xuống thành thơ , khóc chút duyên
Bốn năm qua, từ ngày báo [chí] vô tình hé mở cho ta một lòng. Ai biết con người vườn Thanh bây giờ ra thế nào ? Liệu rồi đây, người ta có thể lẳng lặng ôm nỗi buồn riêng cho đến khi về chín suối ?
tháng 11 - 1941
HOÀI THANH + HOÀI CHÂN [Thi nhân Việtnam, Hànội, 1942]
7. t.t.kh. là ai ?
hoàng tiến
T.T.Kh. với những câu thơ xót xa cảm động :
... Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Và từng thu chết từng thu
Vẫn giấu trong tim một bóng người ...
Vậy T.T.Kh. là ai ? Nam hay nữ ? Bút danh này chỉ thấy ghi ở 3 bài thơ đăng trong Tiểu thuyết thứ bảy và mo6y5t bài trên báo Phụ nữ rồi thôi , không thấy xuất hiện nữa.
Ông Hoài Thanh, năm 1941, có soạn cuốn Thi nhân VN cũng trích dẫn T.T.KH. , với lời ghi chú :
' Sau khi bài thơ kia đăng , xóm nhà văn bỗng xôn xao, có đến mấy người nhất quyết T.T.KH. chính là người yêu của mình. Và, người ta đã phê bình rất náo nhiệt. Có kẻ không ngần ngại cho những bài ấy là những áng thơ kiệt tác ...'
, xin công bố với bạn đọc, mộ thông tin chúng tôi được biết về T.T.KH. Người kể còn sống, mà T.T.KH. cách đ6ay 4 năm vẫn còn gặp. Chúng tôi thấy cần phải công bố ngay, vì, nó có lợi cho việc làm văn học sử sau này.
Số là, vào dịp hội đền Bà Tẩm năm nay ( Kỷ Tỵ, 1989), chúng tôi rủ nhau sang Phú Thụy dự hội. Cùng đi có nhà thơ Lương Trúc, thuộc lớp nhà thơ trước Cách mạng tháng 8, năm nay đã 74 tuổi ( tên thật Phạm quang Hòa ), bạn thân với các nhà thơ Thâm Tâm, Nguyễn Bính và Trần huyền Trân. Chính bài Tống biệt hành, Thâm Tâm viết tặng Phạm quang Hòa, mở đầu bằng 2 câu :
... Tôi và anh : Bính và Hòa
Ở đây xa chị, xa nhà, xa em
và kết thúc bằng 2 câu :
Đây là giọt lệ phân ly
Ngày mai tôi ở, anh đi, bao giờ ?...
Nhà thơ Lương Trúc là người cung cấp tư liệu, và tất nhiên, ông sẽ sẵn sàng chịu trách nhiệm về họ, tên tác giả Hai sắc hoa ti gôn được công bố dưới . Cùng nghe hôm đó với tôi, có nhà thơ Trần lê Văn và nhà thơ Tú Sót.
T.T.KH. tên thật là Trần thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm. Hai người yêu nhau, nhưng, biết không lấy được nhau, hẹn, giữ kín mối tình, để đỡ phiền đến gia đình của nhau sau này. Cô Khánh đọc Tiểu thuyết thứ bảy, in truyện ngắn Hoa ti- gôn của Thanh Châu ( số báo ra vào tháng 9 năm 1937), xúc động, tự thổ lộ câu chuyện riêng bằng bài thơ Hai sắc hoa ti-gôn, và, gửi đăng Tiểu thuyết thứ bảy.
Bài thơ in ra đã gây xôn xao trong làng văn chương, như ông Hoài Thanh ghi nhận . Tiếp đó, để giải thích lý do viết bài Hai sắc hoa ti-gôn, T.T.KH. gửi đến Tiểu thuyết thứ bảy một bài nữa, với tiêu đề bài thơ thứ nhất và viết riêng gửi tặng Thâm Tâm bài thơ Đan áo.
Lại càng xôn xao, nhiều người cho là nam giới giả danh, nhiều người nhận là người yêu của mình, trong số này có nhà thơ Nguyễn Bính.
Thâm Tâm hồi ấy, còn trẻ, với tính hiếu thắng tuổi trẻ, ông đã gửi báo Phụ nữ đăng bài thơ Đan áo để chứng minh với thiên hạ, rằng : ' T.T.KH. chính là người yêu của mình.' tất nhiên, không có sự đồng ý của T.T.KH.
Vì thế mà T.T.KH. giận, cô viết bài thơ dài để trả lời T.T.KH. bài Các anh ( tập thơ mới của Thâm Tâm, nhà xuất bản Văn học, 1987), có in bài Các anh ... nhưng, đây chỉ trích một phần ).
Lời bàn :
Có người viết hàng trăm bài thơ, in hơn chục tập thơ, không gây được một vang hưởng nào trong nghệ thuật, [ mà] T.T.KH. chỉ viết 4 bài thơ, có bài đã gây được vang hưởng.
Thơ hay đâu có cần nhiều.
Phê-lích Ác-ve ( Felix Arvers: 1806- 1850) chỉ nhờ bài Tình tuyệt vọng mà tên tuổi được ghi trong văn học sử Pháp. Mơi hay trong lãnh địa nghệ thuật, số lượng chỉ là cái không đáng kể. T.T.KH. cần phải được xem xét và đánh giá như một tác giả của dòng thơ lãng mạn trước Cách mạng tháng 8. Điều đó không có gì là quá đáng
Được biết, T.T.KH. về sống ở Thanh Hóa đã 4 năm nay, không biết bây giờ còn hay mất, nhưng, cứ xin phép cho chúng tôi được công bố điều bí mật trên, vì nghĩ rằng :
Thời gian qua đi đã dài, nhà thơ Thâm Tâm đã mất, ông nhà đã quy tiên. Vả lại, cũng vì công việc của văn học sử, nếu, đã tìm ra được tác giả của một tác phẩm nổi tiếng, thì, dù đắn đo đến đâu, rồi cũng phải công bố .
báo Nhân chủ nhật, số 23 tháng 7 - 1989
HOÀNG TIẾN
8. ghi thêm về thâm tâm và t.t. kh.
mã giang lân
40 năm nay , nhà thơ Thâm Tâm đã là người trong cõi nhớ. Bạn bè đồng nghiệp của ông là Vũ Cao, Từ bích Hoàng, Trần Độ, Tô Hoài ... đã nhớ và kể lại cuộc đời hoạt động vá sáng tác văn thơ của ông với một tình cảm chân thành trân trọng. lúc đó còn công bo6` thêm nm
Thế nhưng, nói đến Thâm Tâm, nhiều người nghĩ ngay đến T.T.KH. [và hỏi ] T.T.KH. là ai ? Là người yêu của Thâm Tâm ? Chính T.T.KH. là Thâm Tâm ? Giữa T.T.KH. và Thâm tâm vào những năm 1937- 1940, với những bài thơ tình tuyệt với đã làm cho tên tuổi nhà thơ và nữ sĩ ấy vang vọng trên thi đàn.
Những năm sau này, những đợt sóng, những luông dư luận khác nhau về nghi vấn văn chương này vẫn dội lên. Một trong những chứng nhân quan trọng để làm rõ vấn đề, là, Thâm Tâm là nhà thơ đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1950... Ở Sài Gòn trước đây, nhất là vào năm 1970, người ta không ngớt tung ta những huyền thoại về Thâm tâm và T.T.KH.
Vũ Bằng là người giỏi bịa chuyện đã làm rùm beng, một dạo để tỏ mình là người từng trải, là người hiểu biết [rộng]. Và, trong những dịp ấy, nhiều người cũng nhày ra ăn theo, bởi vì, họ chỉ biết qua nghe, rồi, nhặt nhạnh, thêm bớt, viết thành bài làm sáng tỏ. Báo chi Sài Gòn nhiều bài thơ giả cũng ký tên T.T.KH.
hai năm nay
Hai năm nay, khi tập thơ Thâm Tâm ra đời, sự mến mộ của người đọc đối với nhà thơ được khẳng định thêm. Vả lại, xuất hiện trên báo chí những bài viết say sưa đến quá nhiệt tình. Anh Hoàng Tiến viết liền 2 bài, một, đăng trên Nhân dân chủ nhật ( số 23, tháng 7- 1989 ), kể về T.T. KH. Anh còn nói bài thơ Các anh in trong tập thơ Thâm Tâm là trích một bài đăng ở [báo] Hànội ( 2- 9-1989) để cung cấp đầy đủ Tống biệt hành của Thâm Tâm. Tư liệu anh là nghe từ nguồn nghe[ lại] . hai lần ở 2 bài, anh đều nói, anh may mắn được gặp, được nghe cụ Lương Trúc *, nhà thơ và là bạn của thâm tâm kể. Anh Hoàng Tiến nói:
------
* Lương Trúc , bút của Phạm quang Hòa. Ông này từng có thơ đăng trên báo ' Phong hóa ' ( 1935 ) của Tự lực văn đoàn- cùng thời với những bài thơ được đăng của Phạm huy Thông, Thanh Tịnh, Thao Thao v.v... ( BT)
' Vì trách nhiệm của công việc khảo cứu và biên soạn, cũng như lợi ích của việc khảo cứu và biên soạn, cũng như lợi của việc làm văn học sử sau này ..'
nên Hoàng Tiến xin phép nhà thơ Lương Trúc cho công bố toàn bộ bài ' Tống biệt hành' của Thâm Tâm. Đây là một việc cần thiết và bổ ích ( nếu như nghiêm túc, khoa học ), chỉ tiếc một điều, bằng lối văn lộng ngữ , Hoàng Tiến đã đưa ra những nghi ngờ, những điều không có căn cứ. Vậy theo đó, mà viết văn học sử, m2 khảo cứu - thì, giấy mực đâu in cho xuể .
Trước khi nói về T.T.KH., tôi xin có mấy đính chính ở một bài viết ngắn của Hoàng Tiến, khi công bố bài Tống biệt hành.
Tập Thơ Thâm Tâm do nhà xuất bản Văn học in năm 1987, sao anh [Hoàng Tiến] nói là nhà xuất bản Giáo dục ? Giữa năm 1950, Thâm Tâm đi chiến dịch, làm báo[ở ngoài] mặt trận, hy sinh ở gần biên giới, vì cơn bệnh tai ác, sao chỉ ghi nơi hy sinh là ' ở rừng Việt bắc ?.
Đúng là bài Tống biệt hành có một khổ thơ cuối cùng nữa, mà, Thi nhân VN [ Hoài Thanh + Hoài Chân] và kể cả tác giả Thâm Tâm cũng không đưa vào :
.Mây thu đầu núi, gió lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm
Ly khách ven trời nghe muốn khóc
Tiếng đời xô đọng tiếng hờn căm
Còn khổ thơ mà anh cung cấp cho bạn đọc, là :
Mây đầu thu núi gió lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đã đổ thầm
Ngừng ở ven trời nghe tiếng khóc
Tiếng đời xô đọng tiếng lòng căm
Tôi thì, cho khổ thơ trên chính xác hơn, vì đã in trên báo Tiểu thuyết thứ bảy ( 1940) . Còn bài Các anh trong tập Thơ Thâm Tâm chỉ có 16 câu ( 4 khổ thơ ) lấy trọn vẹn từ báo Tiểu thuyết thứ bảy ( 4-5-1940). Hoàng Tiến nghe ở đâu mả bảo đó chỉ là trích đoạn? Chắc Hoàng Tiến tin vào ai đó đã đưa in trên báo Văn nghệ và, nói rằng đây là 8 câu trên và kết thúc là 8 câu sau của bài Các anh,còn ở là 56 câu khác, không ăn nhập gì với kết cấu toàn bài. Vẫn bài thơ dài này cộng cả 64 câu , ông Nguyễn tấn Long trong
' VN thi nhân tiền chiến ' in ở Sài Gòn ( 1968), lại đặt tên là ' Gửi T.T.KH', có lẽ cũng nghe ai nói, rồi ghi lại.
Trở lại câu hỏi T.T.KH. là ai ?
Tôi xin mách;' Thanh Châu chính là người khơi nguồn thiên tình hận này '.
(...)
Sự thật, theo tôi, 50 năm nay rồi, TTKH đến nay vẫn còn là ' ẩn số'. Một hồn thơ đầy xúc cảm, một con người cao thượng, nói lên nỗi đau đớn của mình một cách tuyệt vời, mà lại âm thầm, mai danh ẩn tích- để lại cho giới cầm bút biết bao bàng hoàng thương cảm, mến phục !.
Một điều cần chú ý Một : Trước cách mạng tháng 8 ,[vợ của]Thâm Tâm sống và học ở Thanh hóa, khi xây dựng gia đình với Thâm Tâm, thì ở Hà nội và những năm kháng chiến chống Pháp lại ở Thanh hóa, mãi đến năm 1950, khi nhà thơ hy sinh, bà mới cùng bé Nguyễn tuấn Khoa, con trai duy nhất, lặn lội lên Việt bắc , bà vợ Thâm Tâm hiện nay vẫn đang ở Hànội.
TTKH là ai ? Là Trần thị Khánh, là Thâm Tâm- Khánh, là Tuấn Trình- Khánh ( vì tên thật Thâm Tâm là Nguyễn tuấn Trình ) ... Theo ' VN thi nhân tiền chiến ' ( in ở Sài Gòn , 1968) có người còn nói TTKH chính là Trần thị Khánh, người em gái đồng tông với nhà thơ Tế Hanh ở Thanh hóa, v.v và v.v... Tôi có thể nêu lên rất nhiều huyền thoại, những huyền thoại huyễn hoặc, xung quanh cái tên TTKH này.
TTKH là ai ? là một thiếu phụ, nhưng, chưa bao giờ xuất đầu lộ diện. Chỉ lộ ra cái tên TTKH. Cái tên Trần thị Khánh cũng là do suy luận, suy đoán[ mà thôi] . Theo tôi, mọi cái tên diễn dịch, khẳng định ở trên đều là của giả. Ngay cả 2 bài thơ tiếp sau là' Đan áo cho chồng' và' Bài thơ cuối cùng' dù được ký tên TTKH, cũng có thể là của giả, bởi vì, xét về ý tứ, nghệ thuật thơ, cũng có những mâu thuẫn, những điểm đáng ngờ .
MÃ GIANG LÂN
( báo Văn nghệ [TW] , số 13 tháng 3- 1990)
( kỳ sau tiếp )
văn hóa thông tin tái ban, hànội, 2001
6. t.t.kh...
hoài thanh + hoài chân
Hồi tháng 9 - 1937, Tiểu thuyết thứ bảy đăng một truyện ngắn của ô. Thanh Châu; Hai sắc hoa ti-gôn. Ít ngày sau , tòa báo nhận được một bài thơ nhan đề: Bài thơ thứ nhất, rồi lại nhận được một bài nữa
Hai sắc hoa ti-gôn. Hai bài ấy đều ký T.T.KH. và đều một nét chữ run run. Từ đấy, tòa soạn Tiểu thuyết thứ bảy không nhận được bài nào nữa và cũng không biết T.T.KH. ở đâu ?
Nhưng, sau khi bài thơ kia đăng rồi, xóm nhà văn bỗng xôn xao. Có mấy người nhất quyết T.T.KH. chính là người yêu của mình. Và, người ta đã phê bình rất nồng nhiệt,. Có kẻ không ngần ngại cho 2 ba2it hơ ấy là những áng thơ kiệt tác.
Nói thế đã đành là quá lời , nhưng, trong 2 bài thơ ấy cũng có những câu thơ xứng với vẻ lâm ly của câu chuyện cô bé T.T.Kh. yêu. Người yêu của cô có nét mặt rầu , và, có lẽ đã đọc nhiều văn Từ Trẫm Á. Cô bé kể : Những buổi chiều thu, đứng dưới giàn hoa ti-gôn :
... Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui;
Bảo rằng :' Hoa giống như tim vỡ *
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi !
-------
* có bản chép :' Bảo rằng :' hoa dáng như tim vỡ '.
Cô bé ngây thơ không tin. Ai ngờ lời nói văn hoa kia bỗng thành sự thực. Chàng đi ...
... Ở lại vườn Thanh có một mình,
Tôi yêu gió lạnh lúc tàn canh,
Yêu trăng lạnh lẽo rơi trên áo
Yêu bóng chim xa, nắng lướt mành
Và một ngày kia tôi phải
Cả hồng tôi nữa lúc đi theo
Những cô áo đỏ sang nhà khác !
-Gió hỡi làm sao lạn h rất nhiều ?
Ngày ấy là ngày buồn nhất trong đời nàng :
Người xa xăm quá - Tôi buồn lắm
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường
Từ đó mùa thu qua, rồi, mùa thu qua . nàng vẫn luôn luôn tưởng nhớ,. nhưng, tin buồn chàng nào có hay; cho nên, nàng tự hỏi :
Nếu biết rằng tôi đã có chồng
Trời ơi ! Người ấy có buồn không ?
Một nỗi đau đớn trần truồng, không ẩn sau Liễu Chương Đài, như nỗi đau đớn của nàng Kiều ngày trước :
Cành xuân đã bẻ cho người chuyền tay !
Cho đến hôm nay, xem chuyện tình, tình cờ lại thấy cánh hoa xưa. Nàng không sao cầm lòng được :
Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
Nhỏ xuống thành thơ , khóc chút duyên
Bốn năm qua, từ ngày báo [chí] vô tình hé mở cho ta một lòng. Ai biết con người vườn Thanh bây giờ ra thế nào ? Liệu rồi đây, người ta có thể lẳng lặng ôm nỗi buồn riêng cho đến khi về chín suối ?
tháng 11 - 1941
HOÀI THANH + HOÀI CHÂN [Thi nhân Việtnam, Hànội, 1942]
7. t.t.kh. là ai ?
hoàng tiến
T.T.Kh. với những câu thơ xót xa cảm động :
... Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Và từng thu chết từng thu
Vẫn giấu trong tim một bóng người ...
Vậy T.T.Kh. là ai ? Nam hay nữ ? Bút danh này chỉ thấy ghi ở 3 bài thơ đăng trong Tiểu thuyết thứ bảy và mo6y5t bài trên báo Phụ nữ rồi thôi , không thấy xuất hiện nữa.
Ông Hoài Thanh, năm 1941, có soạn cuốn Thi nhân VN cũng trích dẫn T.T.KH. , với lời ghi chú :
' Sau khi bài thơ kia đăng , xóm nhà văn bỗng xôn xao, có đến mấy người nhất quyết T.T.KH. chính là người yêu của mình. Và, người ta đã phê bình rất náo nhiệt. Có kẻ không ngần ngại cho những bài ấy là những áng thơ kiệt tác ...'
, xin công bố với bạn đọc, mộ thông tin chúng tôi được biết về T.T.KH. Người kể còn sống, mà T.T.KH. cách đ6ay 4 năm vẫn còn gặp. Chúng tôi thấy cần phải công bố ngay, vì, nó có lợi cho việc làm văn học sử sau này.
Số là, vào dịp hội đền Bà Tẩm năm nay ( Kỷ Tỵ, 1989), chúng tôi rủ nhau sang Phú Thụy dự hội. Cùng đi có nhà thơ Lương Trúc, thuộc lớp nhà thơ trước Cách mạng tháng 8, năm nay đã 74 tuổi ( tên thật Phạm quang Hòa ), bạn thân với các nhà thơ Thâm Tâm, Nguyễn Bính và Trần huyền Trân. Chính bài Tống biệt hành, Thâm Tâm viết tặng Phạm quang Hòa, mở đầu bằng 2 câu :
... Tôi và anh : Bính và Hòa
Ở đây xa chị, xa nhà, xa em
và kết thúc bằng 2 câu :
Đây là giọt lệ phân ly
Ngày mai tôi ở, anh đi, bao giờ ?...
Nhà thơ Lương Trúc là người cung cấp tư liệu, và tất nhiên, ông sẽ sẵn sàng chịu trách nhiệm về họ, tên tác giả Hai sắc hoa ti gôn được công bố dưới . Cùng nghe hôm đó với tôi, có nhà thơ Trần lê Văn và nhà thơ Tú Sót.
T.T.KH. tên thật là Trần thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm. Hai người yêu nhau, nhưng, biết không lấy được nhau, hẹn, giữ kín mối tình, để đỡ phiền đến gia đình của nhau sau này. Cô Khánh đọc Tiểu thuyết thứ bảy, in truyện ngắn Hoa ti- gôn của Thanh Châu ( số báo ra vào tháng 9 năm 1937), xúc động, tự thổ lộ câu chuyện riêng bằng bài thơ Hai sắc hoa ti-gôn, và, gửi đăng Tiểu thuyết thứ bảy.
Bài thơ in ra đã gây xôn xao trong làng văn chương, như ông Hoài Thanh ghi nhận . Tiếp đó, để giải thích lý do viết bài Hai sắc hoa ti-gôn, T.T.KH. gửi đến Tiểu thuyết thứ bảy một bài nữa, với tiêu đề bài thơ thứ nhất và viết riêng gửi tặng Thâm Tâm bài thơ Đan áo.
Lại càng xôn xao, nhiều người cho là nam giới giả danh, nhiều người nhận là người yêu của mình, trong số này có nhà thơ Nguyễn Bính.
Thâm Tâm hồi ấy, còn trẻ, với tính hiếu thắng tuổi trẻ, ông đã gửi báo Phụ nữ đăng bài thơ Đan áo để chứng minh với thiên hạ, rằng : ' T.T.KH. chính là người yêu của mình.' tất nhiên, không có sự đồng ý của T.T.KH.
Vì thế mà T.T.KH. giận, cô viết bài thơ dài để trả lời T.T.KH. bài Các anh ( tập thơ mới của Thâm Tâm, nhà xuất bản Văn học, 1987), có in bài Các anh ... nhưng, đây chỉ trích một phần ).
Lời bàn :
Có người viết hàng trăm bài thơ, in hơn chục tập thơ, không gây được một vang hưởng nào trong nghệ thuật, [ mà] T.T.KH. chỉ viết 4 bài thơ, có bài đã gây được vang hưởng.
Thơ hay đâu có cần nhiều.
Phê-lích Ác-ve ( Felix Arvers: 1806- 1850) chỉ nhờ bài Tình tuyệt vọng mà tên tuổi được ghi trong văn học sử Pháp. Mơi hay trong lãnh địa nghệ thuật, số lượng chỉ là cái không đáng kể. T.T.KH. cần phải được xem xét và đánh giá như một tác giả của dòng thơ lãng mạn trước Cách mạng tháng 8. Điều đó không có gì là quá đáng
Được biết, T.T.KH. về sống ở Thanh Hóa đã 4 năm nay, không biết bây giờ còn hay mất, nhưng, cứ xin phép cho chúng tôi được công bố điều bí mật trên, vì nghĩ rằng :
Thời gian qua đi đã dài, nhà thơ Thâm Tâm đã mất, ông nhà đã quy tiên. Vả lại, cũng vì công việc của văn học sử, nếu, đã tìm ra được tác giả của một tác phẩm nổi tiếng, thì, dù đắn đo đến đâu, rồi cũng phải công bố .
báo Nhân chủ nhật, số 23 tháng 7 - 1989
HOÀNG TIẾN
8. ghi thêm về thâm tâm và t.t. kh.
mã giang lân
40 năm nay , nhà thơ Thâm Tâm đã là người trong cõi nhớ. Bạn bè đồng nghiệp của ông là Vũ Cao, Từ bích Hoàng, Trần Độ, Tô Hoài ... đã nhớ và kể lại cuộc đời hoạt động vá sáng tác văn thơ của ông với một tình cảm chân thành trân trọng. lúc đó còn công bo6` thêm nm
Thế nhưng, nói đến Thâm Tâm, nhiều người nghĩ ngay đến T.T.KH. [và hỏi ] T.T.KH. là ai ? Là người yêu của Thâm Tâm ? Chính T.T.KH. là Thâm Tâm ? Giữa T.T.KH. và Thâm tâm vào những năm 1937- 1940, với những bài thơ tình tuyệt với đã làm cho tên tuổi nhà thơ và nữ sĩ ấy vang vọng trên thi đàn.
Những năm sau này, những đợt sóng, những luông dư luận khác nhau về nghi vấn văn chương này vẫn dội lên. Một trong những chứng nhân quan trọng để làm rõ vấn đề, là, Thâm Tâm là nhà thơ đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1950... Ở Sài Gòn trước đây, nhất là vào năm 1970, người ta không ngớt tung ta những huyền thoại về Thâm tâm và T.T.KH.
Vũ Bằng là người giỏi bịa chuyện đã làm rùm beng, một dạo để tỏ mình là người từng trải, là người hiểu biết [rộng]. Và, trong những dịp ấy, nhiều người cũng nhày ra ăn theo, bởi vì, họ chỉ biết qua nghe, rồi, nhặt nhạnh, thêm bớt, viết thành bài làm sáng tỏ. Báo chi Sài Gòn nhiều bài thơ giả cũng ký tên T.T.KH.
hai năm nay
Hai năm nay, khi tập thơ Thâm Tâm ra đời, sự mến mộ của người đọc đối với nhà thơ được khẳng định thêm. Vả lại, xuất hiện trên báo chí những bài viết say sưa đến quá nhiệt tình. Anh Hoàng Tiến viết liền 2 bài, một, đăng trên Nhân dân chủ nhật ( số 23, tháng 7- 1989 ), kể về T.T. KH. Anh còn nói bài thơ Các anh in trong tập thơ Thâm Tâm là trích một bài đăng ở [báo] Hànội ( 2- 9-1989) để cung cấp đầy đủ Tống biệt hành của Thâm Tâm. Tư liệu anh là nghe từ nguồn nghe[ lại] . hai lần ở 2 bài, anh đều nói, anh may mắn được gặp, được nghe cụ Lương Trúc *, nhà thơ và là bạn của thâm tâm kể. Anh Hoàng Tiến nói:
------
* Lương Trúc , bút của Phạm quang Hòa. Ông này từng có thơ đăng trên báo ' Phong hóa ' ( 1935 ) của Tự lực văn đoàn- cùng thời với những bài thơ được đăng của Phạm huy Thông, Thanh Tịnh, Thao Thao v.v... ( BT)
' Vì trách nhiệm của công việc khảo cứu và biên soạn, cũng như lợi ích của việc khảo cứu và biên soạn, cũng như lợi của việc làm văn học sử sau này ..'
nên Hoàng Tiến xin phép nhà thơ Lương Trúc cho công bố toàn bộ bài ' Tống biệt hành' của Thâm Tâm. Đây là một việc cần thiết và bổ ích ( nếu như nghiêm túc, khoa học ), chỉ tiếc một điều, bằng lối văn lộng ngữ , Hoàng Tiến đã đưa ra những nghi ngờ, những điều không có căn cứ. Vậy theo đó, mà viết văn học sử, m2 khảo cứu - thì, giấy mực đâu in cho xuể .
Trước khi nói về T.T.KH., tôi xin có mấy đính chính ở một bài viết ngắn của Hoàng Tiến, khi công bố bài Tống biệt hành.
Tập Thơ Thâm Tâm do nhà xuất bản Văn học in năm 1987, sao anh [Hoàng Tiến] nói là nhà xuất bản Giáo dục ? Giữa năm 1950, Thâm Tâm đi chiến dịch, làm báo[ở ngoài] mặt trận, hy sinh ở gần biên giới, vì cơn bệnh tai ác, sao chỉ ghi nơi hy sinh là ' ở rừng Việt bắc ?.
Đúng là bài Tống biệt hành có một khổ thơ cuối cùng nữa, mà, Thi nhân VN [ Hoài Thanh + Hoài Chân] và kể cả tác giả Thâm Tâm cũng không đưa vào :
.Mây thu đầu núi, gió lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm
Ly khách ven trời nghe muốn khóc
Tiếng đời xô đọng tiếng hờn căm
Còn khổ thơ mà anh cung cấp cho bạn đọc, là :
Mây đầu thu núi gió lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đã đổ thầm
Ngừng ở ven trời nghe tiếng khóc
Tiếng đời xô đọng tiếng lòng căm
Tôi thì, cho khổ thơ trên chính xác hơn, vì đã in trên báo Tiểu thuyết thứ bảy ( 1940) . Còn bài Các anh trong tập Thơ Thâm Tâm chỉ có 16 câu ( 4 khổ thơ ) lấy trọn vẹn từ báo Tiểu thuyết thứ bảy ( 4-5-1940). Hoàng Tiến nghe ở đâu mả bảo đó chỉ là trích đoạn? Chắc Hoàng Tiến tin vào ai đó đã đưa in trên báo Văn nghệ và, nói rằng đây là 8 câu trên và kết thúc là 8 câu sau của bài Các anh,còn ở là 56 câu khác, không ăn nhập gì với kết cấu toàn bài. Vẫn bài thơ dài này cộng cả 64 câu , ông Nguyễn tấn Long trong
' VN thi nhân tiền chiến ' in ở Sài Gòn ( 1968), lại đặt tên là ' Gửi T.T.KH', có lẽ cũng nghe ai nói, rồi ghi lại.
Trở lại câu hỏi T.T.KH. là ai ?
Tôi xin mách;' Thanh Châu chính là người khơi nguồn thiên tình hận này '.
(...)
Sự thật, theo tôi, 50 năm nay rồi, TTKH đến nay vẫn còn là ' ẩn số'. Một hồn thơ đầy xúc cảm, một con người cao thượng, nói lên nỗi đau đớn của mình một cách tuyệt vời, mà lại âm thầm, mai danh ẩn tích- để lại cho giới cầm bút biết bao bàng hoàng thương cảm, mến phục !.
Một điều cần chú ý Một : Trước cách mạng tháng 8 ,[vợ của]Thâm Tâm sống và học ở Thanh hóa, khi xây dựng gia đình với Thâm Tâm, thì ở Hà nội và những năm kháng chiến chống Pháp lại ở Thanh hóa, mãi đến năm 1950, khi nhà thơ hy sinh, bà mới cùng bé Nguyễn tuấn Khoa, con trai duy nhất, lặn lội lên Việt bắc , bà vợ Thâm Tâm hiện nay vẫn đang ở Hànội.
TTKH là ai ? Là Trần thị Khánh, là Thâm Tâm- Khánh, là Tuấn Trình- Khánh ( vì tên thật Thâm Tâm là Nguyễn tuấn Trình ) ... Theo ' VN thi nhân tiền chiến ' ( in ở Sài Gòn , 1968) có người còn nói TTKH chính là Trần thị Khánh, người em gái đồng tông với nhà thơ Tế Hanh ở Thanh hóa, v.v và v.v... Tôi có thể nêu lên rất nhiều huyền thoại, những huyền thoại huyễn hoặc, xung quanh cái tên TTKH này.
TTKH là ai ? là một thiếu phụ, nhưng, chưa bao giờ xuất đầu lộ diện. Chỉ lộ ra cái tên TTKH. Cái tên Trần thị Khánh cũng là do suy luận, suy đoán[ mà thôi] . Theo tôi, mọi cái tên diễn dịch, khẳng định ở trên đều là của giả. Ngay cả 2 bài thơ tiếp sau là' Đan áo cho chồng' và' Bài thơ cuối cùng' dù được ký tên TTKH, cũng có thể là của giả, bởi vì, xét về ý tứ, nghệ thuật thơ, cũng có những mâu thuẫn, những điểm đáng ngờ .
MÃ GIANG LÂN
( báo Văn nghệ [TW] , số 13 tháng 3- 1990)
( kỳ sau tiếp )
Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013
nhà văn - nhà thơ thế phong & mối tình ' nếu anh có em là vợ ' / bài viết : như hoa lê quang sinh ( usa )
tạp chí bút tre ( usa ) tháng 7 / 2006
< www. buttre.org >
nhà văn - nhà thơ thế phong &
mối tình ' nếu anh có em là vợ'
bài viết : như hoa lê quang sinh
Chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu cùng quý độc giả, bài viết về mối tình lãng mạn của nhà văn Thế Phong ( hiện đang sống tại Saigon ) do phóng viên Thanh Hải ghi theo lời kể của nhà văn Thế Phong. Tài liệu nầy, chúng tôi vừa nhận được từ quê nhà gởi sang ( báo PL, tháng 4 - 2006).
Thế Phong sinh ngày 10-07-1932 tại Yên bái. Ông viết văn, làm thơ từ hồi còn rất trè. Năm 20 tuổi, ông viết truyện ngắn đầu tiên , ' Đời học sinh' , ký bút hiệu Tương Huyền, đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hànội ( 17- 11- 1952 ). Truyện dài đầu tiên in ở Saigon năm 1954 : ' Tình sơn nữ'.
Tổng số có trên 50 tác phẩm, đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, và dịch thuật, đã có nhiều tác phẩm được chuyển dịch sang Anh và Pháp ngữ. Những sách ông viết vào thập niên 90 và gần đây nhất, gồm có 'T.T.KH Nàng là ai ?' ( ký Thế Nhật ) - ' Nếu anh có em là vợ ' - ' Cuộc đời viết văn làm báo : Tam Lang- Tôi kéo xe ' - ' Chiêu niệm 4 nhà văn Saigon , Hànội 40 năm xa - Hàn mặc Tử, nhà thơ siêu thoát.
Ông chủ trương nhà xuất bản Đại Nam văn hiến ở Saigon từ 1959 đến 4- 1975. Và đăng truyện ngắn Les Immondices dans la banlieue trên báo Le Monde Diplomatique ( tháng 12/ 1970), đăng thơ trên tạp chí TENGGARA từ 1968 đến 1973. Năm 1971, thơ ông đã được in thành sách ' Asian morning Western music, Đàm xuân Cận chuyển dịch anh ngữ, giáo sư Lloyd Fernando viết tựa, Saigon 1971 & tạp chí TENGGARA giữ bản quyền.
Bút danh thường ký trên các tác phẩm : Tương Huyền, Đường Bá Bổn, Đinh bạch Dân.
Tên tuổi tác giả đã được đưa vào các sách Intoduction à la littérature vietnamienne của M.M. Durand & Nguyen tran Huân ( Collection UNESCO, Nxb La Rose, Paris 1969) và ' Who's who in Vietnam ' ( Vietnam Press, Saigon 1974).
Sau 1975, 2 cuốn sách in ở Hoa Kỳ: Hồi ký ngoài văn chương ( Nxb văn nghệ , Cali, 1996) và ' Thư viết ở Saigon ' ( Nxb Văn Uyển, San Jose, Cali, 2000 ).
Chúng tôi được làm quen với ông Thế Phong từ năm 2000, qua sự giới thiệu của nhà văn, nhà báo Thanh Thương Hoàng ở San Jose. Và từ đó, ông đã tham gia thi tập ' Cụm hoa tinh yêu' do Hội thơ Tài tử Việtnam Hải ngoại xuất bản hàng năm cho tới nay . Đáng lẽ ông đã đến Hoa Kỳ để tham dự Đại hội Thơ quốc tế vào ngày 17 tháng 9 năm 2006, theo lời mời của chúng tôi, nhưng lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Saigon đã từ chối cấp chiếu khán cho ông và phu nhân Nguyện thị Khê, với lý do rất đơn giản : có khả năng không trở lại Việtnam, hay, nói cách , là , họ ngại vợ chồng ông sẽ tìm cách ở lại Mỹ luôn ! Chúng tôi không tin như vậy.
Thế Phong là một con người khá đặc biệt. Học giả Hoàng xuân Việt, nhà văn Hoàng Lại Giang, nhà văn Tạ Tỵ đã nói nhiều về cá tính của ông. Ông có lối viết bộc trực như cách sống của ông. Tuy nhiên, dù thuộc thành phần ưa ông hay ghét ông, độc giả vẫn bị cuốn hút bởi những chuyện ông kể. Ông có lối sống ' bạt mạng ' , như chính ông cũng tự nhận mình la ' con ngựa bất kham '. Người ta nói,' có tật, có tài'. Nhưng, đối với Thê Phong, chúng tôi xin nói ngược lại, ông là người' có tài, có tật '.
NHƯ HOA LÊ QUANG SINH
Mười ba tuổi , khi đang học phổ thông, tôi đã cảm một cô bé học cùng lớp. Cô bé có đôi má ửng hồng, rất xinh. Tôi viết vào vở cô ấy một câu tiếng Pháp:' Je t'aime ' ( Anh yêu em ). Cô bé đem quyển vở nộp cho cha tôi là hiệu trưởng của trường. Ông bắt tôi xin lỗi bạn rồi về nhà cho tôi một trận no đòn.
Mười tám tuổi, tôi lại si là vở của một anh dân tộc Thái là thượng sĩ của Pháp. Anh ta tức tôi, báo với quan đồn Pháp tôi là Việt Minh. Cha tôi lo lắng, bắt tôi nghỉ học, đem sang gửi ở nhà ông giáo Bảo (sau này là bố vợ tôi ), nhờ thầy lo giấy tờ cho tôi về Hànội lánh nạn.
MỐI TÌNH DANG DỞ
Về Hànội khắt khe của bà cô, nhưng, tính tôi ngang tàng, ưa phóng khoáng, nào có chịu ngồi một chỗ. Bà cô mắng nhiều, vì tự ái, tôi bỏ đi lang thang, rồi, bắt đầu viết báo.
Năm 1954, tôi vào Saigon, bắt đầu cuộc đời viết văn, làm báo, và gặp Cao Mỵ Nhân, người phụ nữ để lại dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời tôi. Từ chuyện làm thơ, viết báo, chúng tôi nhanh chóng sánh đôi ngay từ mới quen . Trái tim lãng đãng và nghệ sĩ trong đời tôi như đã tìm thấy ' nửa' kia cho mình.
Mỵ là con thứ trong gia đình khá giả. mấy chị em gái đều tên là Nhân : Thi Nhân, Mỹ Nhân, Mỵ Nhân, Văn Nhân . Cô sống rất có tâm hồn. Khi tôi dự định hỏi xin cưới Mỵ, cha cô phản đối mối tình với anh chàng nhà văn nghèo, túi không tiền, không nhà cửa như tôi. Tôi vừa giận ông, vừa buồn cho mối tình éo le của mình.
Một buổi tối, tôi đến nhà Mỵ dõng dạc:' . Thưa bác, tôi xin trả bác cô con gái con gái còn nguyên si ạ ! ' Sau đó , chúng tôi chia tay để cô ấy lấy chồng theo ý cha mình. Tập thơ đầu tay Nếu anh có em là vợ ( năm 1959) ra đời, khi lòng tôi còn tan nát về mối tình ấy. Sau đó, còn nhiều tập thơ tôi viết về Mỵ và mối tình dang dở của mình.
GẶP LẠI CỐ NHÂN
Tháng 11 năm 1965, tôi gặp Khê ở Đà- lạt. Tôi mê ngay vẻ đẹp dịu dàng của con gái Tây bắc. Một tháng sau, tôi lên thăm nàng, rủ nàng ra đồi Cù chụp hình và chụp luôn 3 cuộn phim được hơn 200 kiểu.
Về Saigon, tôi gửi thư và thiệp cưới có in hình tôi với Khê cho bố vợ tương lai, ghi rõ :' Cháu đã gửi thiệp cho bạn bè rồi, chỉ chờ ý kiến bác và Khê '. Cha Khê giật mình, định viết thư bảo tôi thư thả, nhưng cũng không thể khác được. Hôm sau các báo đăng tin tôi sắp làm đám cưới với Khê. Bạn bè vẫn bảo tôi bắt cóc vợ là vì thế . Vì từ khi gặp đến ngày cưới chỉ hơn 2 tháng, vỏn vẹn 2 lần gặp.
Mỵ lấy chồng trước tôi, đã có 4 con, nhưng không hạnh phúc. Thỉnh thoảng, chúng tôi vẫn gặp nhau. Cô ấy vẫn làm thơ tặng tôi, vì thế mà chồng Mỵ buồn, rồi đi tìm vui nơi khung cửa khác. Năm 1968, chúng tôi gặp lại ở Đà nẵng, Mỵ tặng tôi một cuốn thơ viết cho tôi. Tôi đã, sau mấy năm sống với chồng có 4 con, trai gái đủ cả; nhưng, cũng nổi hứng làm thơ tặng lại nàng.
Sau chuyến công tác ấy, tôi im lặng, không hề nửa lời với vợ về chuyện Mỵ, sợ nàng nổi nóng với chuyện tình cũ không rủ cũng tới của tôi. Còn Mỵ sau mấy năm sống với chồng không hạnh phúc, họ chia tay. Có lẽ cũng một phần tại tôi. Mỵ có chồng, nhưng vẫn viết thơ tình cho tôi giống nàng T.T.KH.
Tôi ngạc nhiên, khi thấy vợ chẳng giận hờn, ghen tức, còn đùa tôi :' Em sẽ tiếp sức cho anh đi '. Lúc ấy, tôi chưa hiểu ý vợ, nên, vẫn thường xuyên gặp Mỵ. năm 1979, Mỵ bàn với tôi sang Mỹ sống cho mối tình đi đường vòng của 2 đứa. Tôi mụ mị cả người, giữa một bên là cuộc sống khó khăn, vợ tôi 5 đứa con nhỏ, một bên là tình yêu với nàng thơ , với nửa tâm hồn. Tôi băn khoăn đâu là lẽ sống !
NGƯỜI VỢ TUYỆT VỜI
Một sáng tinh mơ , tôi thức dậy, lặng lẽ xếp đồ, đi theo tiếng gọi của trái tim. Vợ tôi tưởng chồng dậy đi làm, nhét vội vào ví tôi 500 đồng đổ xăng. Nhưng ông Trời công bằng thật, ít nhất là với vợ tôi. Cuộc ra đi không thành, tôi thất thểu như mất sổ gạo, trở về nhà, lặng thinh.
Thấy chồng về muộn, vợ tôi sốt sắng : ' Anh đi đâu mà chẳng nói, giờ mới về, em lo quá !' . Tôi sinh ra cáu giận vô cớ, còn hạ cẳng tay với nàng. Vợ tôi chắc cũng lờ mờ nhận ra nỗi lòng của chồng, nhưng, vẫn dịu dàng.
Một đêm, cô ấy thủ thỉ : ' Nếu anh không muốn ở với em, thì cứ đi, để 5 đứa con cho em, em không trách anh đâu !'. Tự nhiên, tôi mủi lòng, thấy mình không phải với nàng. Thương vợ con quá ! Sự nhẹ nhàng của người phụ nữ có sức mạnh ghê gớm thật ! Nó thức tỉnh con ngựa bất kham trong tôi. Tôi ôm lấy vợ và kể hết mọi chuyện đi không thành cho cô ấy nghe như một đứa trẻ . Vợ tôi bảo : ' Đưa xem thơ cô ấy tặng anh có hay không ?' Tôi ngoan ngoãn đưa xem, xem xong, vợ tôi vẫn dịu dàng, không ghen, không giận.
Đầu những năm 90, Mỵ sang Mỹ sống. Chúng tôi không còn nhiều dịp gặp như xưa, nhưng, vẫn có thơ dành tặng nhau về mối tình dang dở ấy . Vợ tôi vẫn vui vẻ, làm như chẳng yêu chồng nên không ghen ( thế mới chết !). Đến giờ, mối tình với Mỵ vẫn luôn là kỷ niệm đẹp và đáng nhớ nhất trong cuộc đời tôi. Mỵ không còn ở Việtnam, nhưng, vài năm cô ấy vẫn về thăm chúng tôi, như một người bạn, hay, một người yêu , tùy theo cô ấy.
Sau này, tôi còn có vài kỷ niệm riêng, khi vắng vợ, nhưng, tôi không bao giờ giấu vợ được điều
gì. Tôi viết cuốn Hồi ký ngoài văn chương, để ' Tặng riêng Khê, người vợ tuyệt vời của tôi ' .Cô ấy bảo : ' Đối xử với vợ như vậy mà chỉ một câu tặng người vợ tuyệt với là xong đấy hẳn ?!'
Tóc tôi đã điểm bạc, cháu nội ngoại đều có cả, nghĩ lại cuộc đời mình có nhiều kỷ niệm để nhớ- trong đó - có mối tình Nếu anh có em là vợ dành cho Mỵ và, có cả sự dịu dàng của người vợ luôn là sợi dây vô hình kéo tôi lại với cuộc sống bình yên của gia đình.
[]
T.H.
( Bđd : tr 94- 95)
< www. buttre.org >
nhà văn - nhà thơ thế phong &
mối tình ' nếu anh có em là vợ'
bài viết : như hoa lê quang sinh
Chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu cùng quý độc giả, bài viết về mối tình lãng mạn của nhà văn Thế Phong ( hiện đang sống tại Saigon ) do phóng viên Thanh Hải ghi theo lời kể của nhà văn Thế Phong. Tài liệu nầy, chúng tôi vừa nhận được từ quê nhà gởi sang ( báo PL, tháng 4 - 2006).
Thế Phong sinh ngày 10-07-1932 tại Yên bái. Ông viết văn, làm thơ từ hồi còn rất trè. Năm 20 tuổi, ông viết truyện ngắn đầu tiên , ' Đời học sinh' , ký bút hiệu Tương Huyền, đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hànội ( 17- 11- 1952 ). Truyện dài đầu tiên in ở Saigon năm 1954 : ' Tình sơn nữ'.
Tổng số có trên 50 tác phẩm, đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, và dịch thuật, đã có nhiều tác phẩm được chuyển dịch sang Anh và Pháp ngữ. Những sách ông viết vào thập niên 90 và gần đây nhất, gồm có 'T.T.KH Nàng là ai ?' ( ký Thế Nhật ) - ' Nếu anh có em là vợ ' - ' Cuộc đời viết văn làm báo : Tam Lang- Tôi kéo xe ' - ' Chiêu niệm 4 nhà văn Saigon , Hànội 40 năm xa - Hàn mặc Tử, nhà thơ siêu thoát.
Ông chủ trương nhà xuất bản Đại Nam văn hiến ở Saigon từ 1959 đến 4- 1975. Và đăng truyện ngắn Les Immondices dans la banlieue trên báo Le Monde Diplomatique ( tháng 12/ 1970), đăng thơ trên tạp chí TENGGARA từ 1968 đến 1973. Năm 1971, thơ ông đã được in thành sách ' Asian morning Western music, Đàm xuân Cận chuyển dịch anh ngữ, giáo sư Lloyd Fernando viết tựa, Saigon 1971 & tạp chí TENGGARA giữ bản quyền.
Bút danh thường ký trên các tác phẩm : Tương Huyền, Đường Bá Bổn, Đinh bạch Dân.
Tên tuổi tác giả đã được đưa vào các sách Intoduction à la littérature vietnamienne của M.M. Durand & Nguyen tran Huân ( Collection UNESCO, Nxb La Rose, Paris 1969) và ' Who's who in Vietnam ' ( Vietnam Press, Saigon 1974).
Sau 1975, 2 cuốn sách in ở Hoa Kỳ: Hồi ký ngoài văn chương ( Nxb văn nghệ , Cali, 1996) và ' Thư viết ở Saigon ' ( Nxb Văn Uyển, San Jose, Cali, 2000 ).
Chúng tôi được làm quen với ông Thế Phong từ năm 2000, qua sự giới thiệu của nhà văn, nhà báo Thanh Thương Hoàng ở San Jose. Và từ đó, ông đã tham gia thi tập ' Cụm hoa tinh yêu' do Hội thơ Tài tử Việtnam Hải ngoại xuất bản hàng năm cho tới nay . Đáng lẽ ông đã đến Hoa Kỳ để tham dự Đại hội Thơ quốc tế vào ngày 17 tháng 9 năm 2006, theo lời mời của chúng tôi, nhưng lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Saigon đã từ chối cấp chiếu khán cho ông và phu nhân Nguyện thị Khê, với lý do rất đơn giản : có khả năng không trở lại Việtnam, hay, nói cách , là , họ ngại vợ chồng ông sẽ tìm cách ở lại Mỹ luôn ! Chúng tôi không tin như vậy.
Thế Phong là một con người khá đặc biệt. Học giả Hoàng xuân Việt, nhà văn Hoàng Lại Giang, nhà văn Tạ Tỵ đã nói nhiều về cá tính của ông. Ông có lối viết bộc trực như cách sống của ông. Tuy nhiên, dù thuộc thành phần ưa ông hay ghét ông, độc giả vẫn bị cuốn hút bởi những chuyện ông kể. Ông có lối sống ' bạt mạng ' , như chính ông cũng tự nhận mình la ' con ngựa bất kham '. Người ta nói,' có tật, có tài'. Nhưng, đối với Thê Phong, chúng tôi xin nói ngược lại, ông là người' có tài, có tật '.
NHƯ HOA LÊ QUANG SINH
Mười ba tuổi , khi đang học phổ thông, tôi đã cảm một cô bé học cùng lớp. Cô bé có đôi má ửng hồng, rất xinh. Tôi viết vào vở cô ấy một câu tiếng Pháp:' Je t'aime ' ( Anh yêu em ). Cô bé đem quyển vở nộp cho cha tôi là hiệu trưởng của trường. Ông bắt tôi xin lỗi bạn rồi về nhà cho tôi một trận no đòn.
Mười tám tuổi, tôi lại si là vở của một anh dân tộc Thái là thượng sĩ của Pháp. Anh ta tức tôi, báo với quan đồn Pháp tôi là Việt Minh. Cha tôi lo lắng, bắt tôi nghỉ học, đem sang gửi ở nhà ông giáo Bảo (sau này là bố vợ tôi ), nhờ thầy lo giấy tờ cho tôi về Hànội lánh nạn.
MỐI TÌNH DANG DỞ
Về Hànội khắt khe của bà cô, nhưng, tính tôi ngang tàng, ưa phóng khoáng, nào có chịu ngồi một chỗ. Bà cô mắng nhiều, vì tự ái, tôi bỏ đi lang thang, rồi, bắt đầu viết báo.
Năm 1954, tôi vào Saigon, bắt đầu cuộc đời viết văn, làm báo, và gặp Cao Mỵ Nhân, người phụ nữ để lại dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời tôi. Từ chuyện làm thơ, viết báo, chúng tôi nhanh chóng sánh đôi ngay từ mới quen . Trái tim lãng đãng và nghệ sĩ trong đời tôi như đã tìm thấy ' nửa' kia cho mình.
Mỵ là con thứ trong gia đình khá giả. mấy chị em gái đều tên là Nhân : Thi Nhân, Mỹ Nhân, Mỵ Nhân, Văn Nhân . Cô sống rất có tâm hồn. Khi tôi dự định hỏi xin cưới Mỵ, cha cô phản đối mối tình với anh chàng nhà văn nghèo, túi không tiền, không nhà cửa như tôi. Tôi vừa giận ông, vừa buồn cho mối tình éo le của mình.
Một buổi tối, tôi đến nhà Mỵ dõng dạc:' . Thưa bác, tôi xin trả bác cô con gái con gái còn nguyên si ạ ! ' Sau đó , chúng tôi chia tay để cô ấy lấy chồng theo ý cha mình. Tập thơ đầu tay Nếu anh có em là vợ ( năm 1959) ra đời, khi lòng tôi còn tan nát về mối tình ấy. Sau đó, còn nhiều tập thơ tôi viết về Mỵ và mối tình dang dở của mình.
GẶP LẠI CỐ NHÂN
Tháng 11 năm 1965, tôi gặp Khê ở Đà- lạt. Tôi mê ngay vẻ đẹp dịu dàng của con gái Tây bắc. Một tháng sau, tôi lên thăm nàng, rủ nàng ra đồi Cù chụp hình và chụp luôn 3 cuộn phim được hơn 200 kiểu.
Về Saigon, tôi gửi thư và thiệp cưới có in hình tôi với Khê cho bố vợ tương lai, ghi rõ :' Cháu đã gửi thiệp cho bạn bè rồi, chỉ chờ ý kiến bác và Khê '. Cha Khê giật mình, định viết thư bảo tôi thư thả, nhưng cũng không thể khác được. Hôm sau các báo đăng tin tôi sắp làm đám cưới với Khê. Bạn bè vẫn bảo tôi bắt cóc vợ là vì thế . Vì từ khi gặp đến ngày cưới chỉ hơn 2 tháng, vỏn vẹn 2 lần gặp.
Mỵ lấy chồng trước tôi, đã có 4 con, nhưng không hạnh phúc. Thỉnh thoảng, chúng tôi vẫn gặp nhau. Cô ấy vẫn làm thơ tặng tôi, vì thế mà chồng Mỵ buồn, rồi đi tìm vui nơi khung cửa khác. Năm 1968, chúng tôi gặp lại ở Đà nẵng, Mỵ tặng tôi một cuốn thơ viết cho tôi. Tôi đã, sau mấy năm sống với chồng có 4 con, trai gái đủ cả; nhưng, cũng nổi hứng làm thơ tặng lại nàng.
Sau chuyến công tác ấy, tôi im lặng, không hề nửa lời với vợ về chuyện Mỵ, sợ nàng nổi nóng với chuyện tình cũ không rủ cũng tới của tôi. Còn Mỵ sau mấy năm sống với chồng không hạnh phúc, họ chia tay. Có lẽ cũng một phần tại tôi. Mỵ có chồng, nhưng vẫn viết thơ tình cho tôi giống nàng T.T.KH.
Tôi ngạc nhiên, khi thấy vợ chẳng giận hờn, ghen tức, còn đùa tôi :' Em sẽ tiếp sức cho anh đi '. Lúc ấy, tôi chưa hiểu ý vợ, nên, vẫn thường xuyên gặp Mỵ. năm 1979, Mỵ bàn với tôi sang Mỹ sống cho mối tình đi đường vòng của 2 đứa. Tôi mụ mị cả người, giữa một bên là cuộc sống khó khăn, vợ tôi 5 đứa con nhỏ, một bên là tình yêu với nàng thơ , với nửa tâm hồn. Tôi băn khoăn đâu là lẽ sống !
NGƯỜI VỢ TUYỆT VỜI
Một sáng tinh mơ , tôi thức dậy, lặng lẽ xếp đồ, đi theo tiếng gọi của trái tim. Vợ tôi tưởng chồng dậy đi làm, nhét vội vào ví tôi 500 đồng đổ xăng. Nhưng ông Trời công bằng thật, ít nhất là với vợ tôi. Cuộc ra đi không thành, tôi thất thểu như mất sổ gạo, trở về nhà, lặng thinh.
Thấy chồng về muộn, vợ tôi sốt sắng : ' Anh đi đâu mà chẳng nói, giờ mới về, em lo quá !' . Tôi sinh ra cáu giận vô cớ, còn hạ cẳng tay với nàng. Vợ tôi chắc cũng lờ mờ nhận ra nỗi lòng của chồng, nhưng, vẫn dịu dàng.
Một đêm, cô ấy thủ thỉ : ' Nếu anh không muốn ở với em, thì cứ đi, để 5 đứa con cho em, em không trách anh đâu !'. Tự nhiên, tôi mủi lòng, thấy mình không phải với nàng. Thương vợ con quá ! Sự nhẹ nhàng của người phụ nữ có sức mạnh ghê gớm thật ! Nó thức tỉnh con ngựa bất kham trong tôi. Tôi ôm lấy vợ và kể hết mọi chuyện đi không thành cho cô ấy nghe như một đứa trẻ . Vợ tôi bảo : ' Đưa xem thơ cô ấy tặng anh có hay không ?' Tôi ngoan ngoãn đưa xem, xem xong, vợ tôi vẫn dịu dàng, không ghen, không giận.
Đầu những năm 90, Mỵ sang Mỹ sống. Chúng tôi không còn nhiều dịp gặp như xưa, nhưng, vẫn có thơ dành tặng nhau về mối tình dang dở ấy . Vợ tôi vẫn vui vẻ, làm như chẳng yêu chồng nên không ghen ( thế mới chết !). Đến giờ, mối tình với Mỵ vẫn luôn là kỷ niệm đẹp và đáng nhớ nhất trong cuộc đời tôi. Mỵ không còn ở Việtnam, nhưng, vài năm cô ấy vẫn về thăm chúng tôi, như một người bạn, hay, một người yêu , tùy theo cô ấy.
Sau này, tôi còn có vài kỷ niệm riêng, khi vắng vợ, nhưng, tôi không bao giờ giấu vợ được điều
gì. Tôi viết cuốn Hồi ký ngoài văn chương, để ' Tặng riêng Khê, người vợ tuyệt vời của tôi ' .Cô ấy bảo : ' Đối xử với vợ như vậy mà chỉ một câu tặng người vợ tuyệt với là xong đấy hẳn ?!'
Tóc tôi đã điểm bạc, cháu nội ngoại đều có cả, nghĩ lại cuộc đời mình có nhiều kỷ niệm để nhớ- trong đó - có mối tình Nếu anh có em là vợ dành cho Mỵ và, có cả sự dịu dàng của người vợ luôn là sợi dây vô hình kéo tôi lại với cuộc sống bình yên của gia đình.
[]
T.H.
( Bđd : tr 94- 95)
Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013
một bài phỏng vấn thế phong vào 1971 ở dalat / trần hữu lục thực hiện
tạp chí ý thức [saigon] số 14 / 1971
chủ nhiệm: nguyễn thị yến
một bài phòng vấn
thế phong ở dalat
trần hữu lục thực hiện
Thế Phong lên Đà lạt tìm tôi vào một buổi tối. Vào lúc bấy giờ, mùa trăng thật đầy, bát ngát và lạnh lẽo. Vào nhà chưa kịp ngồi, là đã rối rít gọi đi uống rượu. Tôi nói khỏi phải đi đâu cả, nhà có sẵn rượu, mình ở lại nói chuyện ấm hơn. Thế Phong cười, nhìn quanh và hồ nghi. Anh thấy cái kệ sách, cái bàn viết, trông ly tách, rồi, nhắc lại ý kiến lúc nãy. Thế Phong vẫn thế, ồn ào, và vui vẻ, mái tóc ngắn khỏe mạnh, nét mặt đãng tử và nụ cười ngoan đồng, làm cho anh có cái nét nghệ sĩ thật lạ ! Con người nhà văn của anh, tôi vẫn thường thân mật đùa là một lão ngoan đồng Châu bá Thông trong văn nghệ. Nhận xét này đối với tôi, sau, khi đọc anh khá nhiều, nhất là, trong các cuốn tự sự Nửa đường đi xuống, Nhà văn tác phẩm cuộc đời ...
Thế Phong là một nghệ sĩ thành thật với mình và với đời :
'... Mười năm rồi và chỉ cần đối bóng với chính tôi thôi, tôi là một kẻ dám làm . Nếu tôi không là Thế Phong, tôi cũng hết chịu nổi tôi nữa ..'.
MƯỚI NĂM VĂN NGHỆ/ THẾ PHONG - ĐẠI NĂM VĂN HIẾN xuất bản, Saigon 1963 .
Chính vì cái type nghệ sĩ thành thực đó, Thế Phong đã đến với tôi hết sức cởi mở, thân tình của một người bạn văn và của một người có đời sống phù trầm trong tính cảnh cực đoan này. Tôi hỏi anh là có ý kiến chi về cái thư của tôi, khi, ngỏ ý muốn được gặp anh , để, thực hiện một cuộc phỏng vấn. Anh cười :
' Cách đây 2 hôm, có gặp L.m Nguyễn ngọc Lan ở Nxb Trình bày, tôi có nói với anh ấy, là, Lục định thực hiện cuộc phỏng vấn [một số] nhà văn, thơ về một số đề tài. [Trần hữu] Lục, nó nói đúng, là để cho tôi vuột khỏi tầm tay ở Đà lạt, thì, khó thực hiện cuộc phỏng vấn lắm '.
Nghe anh nói, quả thực tôi thiếu tế nhị. Tôi thấy hơi ngượng, lật đật đi pha cà-phê. Lúc tôi mang tách cà-phê bốc đặt lên bàn, anh đang đứng nhìn trăng ngoài cửa kính. Tôi nhắc lại cảm giác khó quên, khi đọc bài thơ Nhật ký chết trận của anh đăng trên Đất nước số 7, cùng một vài kỷ niệm hồi còn viết chung ở tạp chí Đất nước . Tôi cũng rào đón trước , rằng :
'... viết về Thế Phong cũng có một vài tác giả viết rồi, chẳng hạn, Cao thế Dung trong Thi nhân VN hậu chiến, Du tử Lê trong Năm sắc diên năm định mệnh , Nguyễn đình Tuyến trong Nhà thơ hôm nay, hoặc, trong Introduction à la littérature vietnamienne của Maurice M. Durand và Nguyên-tran Huân.. Tôi không viết về anh trong chiều hướng đó, tôi chỉ xin hỏi anh vài điều liên quan đến hoàn cảnh cùng vi trò của người cầm bút . Đồng ý ? Và đây là một số câu hỏi tiêu biểu :
HỎI : - Anh cho biết khởi sự viết văn từ năm nào ?
ĐÁP - Khởi sự viết từ tháng 11 năm 1952 ở Hànội, lúc đó còn đi học và cũng là tháng [mà] CS chiếm Nghĩa lộ [huyện Văn chấn, tỉnh Yên bái], quê hương của tôi , từ đó, mất cả bà mẹ già yêu quí. Tôi viết bài đầu tiên, ký tên TƯƠNG HUYỀN , nhan đề Đời học sinh , đăng trên báo
' Tia sáng' ở Hànội vào cuối 1952.'
H: - Cho biết chiều hướng sáng tác của anh ?
Đ : - Văn chương, thi ca của tôi là lịch sử sự sống một thời của tôi, cộng thêm hoàn cảnh xã hội mà tôi sống trong đó . Bao giờ tôi cũng đứng về phía bị áp bức, bị bóc lột, bị trà đạp; để, từ đó nói lên điều không may mắn trong' cái đời gọi là làm người của nhược tiểu dân tộc .'
H: - Anh thường gặp khó khăn nào trong lúc cầm bút ?
Đ: - Có 2 con đường để đi, bất cứ với ai vào nghề cầm bút. Thứ nhất, nếu cá nhân không đủ
' cran' để đi vào con đường gồ ghề chưa một ai khai phá ; thì, nên đi vào con đường đã vạch sẵn, dễ đi hơn. Thứ hai, con đường chính mình là kẻ dẫn đạo để đi, thì, tất nhiên gai góc, mệt nhọc, vất vả. Tôi đồng ý với Thomas Mann về điều này, được viết trong' Ngọn núi bí ẩn' [Le Montagne Magique]. Và, bạn cũng đã thấy quá nhiều minh chứng trong lịch sử cuộc đời va sự nghiệp của người cầm bút trong nước cũng như ngoại quốc.
H: - Hoàn cảnh của người cầm bút hôm nay có khó khăn hơn những người cầm bút sau năm 1945 ? và cho biết thêm ý kiến về những người cầm bút trong hoàn cảnh cực đoan này.
Đ:- Tôi rất thích thơ Luân Hoán, những bài nói về hoàn cảnh xót xa của đất nước, trong , hòa bình và đời sống dân nhược tiểu. Trong đó, đề cập chiến tranh, hòa bình và đời sống của dân nhược tiểu. Về văn, tôi rất thích những bút ký chiến tranh của Phan nhật Nam, như, trong Dấu binh lửa, Dọc đường số 1 ..., nói về đời sống chiến sĩ, dân chúng trong những ngày khói lửa; đọc lên thấy xót xa , chua chát tận cùng ! Những bài thơ Luân Hoán, văn Phan nhật Nam nên dịch sang anh ngữ, cho thế giới đọc, để, họ hiểu chiều hướng và cuộc sống người dân miền Nam, trong hoàn cảnh sống, tranh đấu thực như thế nào ? Và ít ra, thì, người ngoại quốc hiểu rõ được hơn.
H: - Anh cho biết qua tình trạng xuất bản , cùng những khó khăn mà anh gặp phải ?
Đ : - Từ 1959 đến 1964 xuất bản bằng cách in rô-nê-ô những tác phẩm của tôi hay anh chị em từng quây quần trong Nxb Đại Nam văn hiến. Vì giai đoạn ấy, chúng tôi không chấp nhận loại tác phẩm được gọi là chống Cộng, tố Cộng, theo kiểu đặt hàng. Như Mai Thảo với cái được gọi là tác phẩm, cuốn ' Ánh sáng miền Nam' , hoặc tạp chí Sáng tạo v.v... Nhưng không phải vậy mà chúng ta không cần đến ' loại tác phẩm',cũng đành phải gọi là tác phẩm , [ về phương diện ' văn dĩ tải đạo] phục vụ cho một giai đoạn chính trị]. Có điều tôi muốn nói là, đùng bắt tất cả ai cũng phải viết theo lối đặt hàng trên, và, những ai đã ' ở trong công tác làm văn công kiểu Mai Thảo, thì hãy nên gục đầu xuống khi gặp bạn bè. Chứ đừng ' bán trôn nuôi miệng', lại mồm loa mép dải rằng mình đích thực là con nhà lành.' * Anh [Trần hữu] Lục và bạn đọc có đồng ý như thế
không ? Càng hơn nữa , đừng có ý hướng hãm hại những ai chưa bị đồng tiền lung lạc.
-----
* USIS tung tiền , hợp đồng với Mai Thảo để phóng tác cuốn truyện Ánh sáng miền Nam [ từ một cuốn phim tuyên truyền của Hoa Kỳ] hoặc, William Tucker cấp tiền làm báo, giao cho một người Việt, tên Nguyễn đăng Quý] làm chủ nhiệm tờ báo Sáng tạo, đồng thời gài người làm quản lý[ Đặng lê Kim[ để kiểm soát vấn đề tài chính . [ Chú thích sau - TP]
Từ 1964, tôi cho in những tác phẩm mà trước kia [ thời đệ I Công hòa / Ngô đình Diệm] cấm , như ' Nửa đường đi xuống' ,' Việtnam bi thảm Đông dương ' [dịch] ,' Nhận diện vóc dáng Nguyễn đức Quỳnh', ' Friedrich Nietzsche và Chủ nghĩa đi lên con người', 'Thủy và T6', ' Chiếc roi ngựa' ...
Một truyện ngắn Khu rác ngoại thành còn được chuyển dịch pháp ngữ, in trong tuyển tập thơ, truyện Le Crépuscule de la violence [Nxb Trính bày], ts Lê văn Hào [Lê Hào]. Và cũng truyện ngắn này, trước đó, Cao Giao [Huỳnh văn Phẩm] chuyển dịch pháp văn, phóng viên Jean-Claude Pomonti báo Le Monde cho đăng trên Le Monde Diplomatique vào tháng 12 năm 1970.
và tạp chí TENGGARA ( Đại học Malaya / Kuala Lumpur ) đã trích đăng lại một số bài thơ + văn của tôi trong các thi phẩm Vietnam under fire & flames * - 'South Vietnam, the Baby in the arms of the American nurse ', liên tiếp từ 1968 tới 1973.
----
* ... In looking for the best work by Southeast Asian writers, TENGGARA plays its quite literally by ar. The 1967 number was much enhanced by, among much other excellent work, the tragic simplicity of Taufiq Ismail's poems. Readers of that issue will know how Taufiq's poems were obtained . For the present issue we were fortunate again in discovering the English translation of a book of poems by the Vietnmese poet, Thêphong. The selection we publish here is a moving reminder of the spiritual devastation and waste his country has undergone for twenty years without respite. We hope to publish more of Thêphong's work in the near future ...'
TENGGARA DIARY 2 / 1968.
[CHÚ THÍCH SAU- TP]
còn bộ sách phê bình văn học Lược sử văn nghệ Việtnam 1900- 1956, gồm 4 tập - 1) Nhà văn tiền chiến 1930- 1945 - 2) Nhà văn kháng chiến chủ lực 1945- 1950 + Nhà văn miền Nam 1945- 1950 - 3) Nhà văn hậu chiến 1950 - 4) Tổng luận 60 năm văn nghệ Việtnam 1900 - 1956 ., bị kiểm duyệt, cắt xén, không cấp phép xuất bản. Thế rồi ,
... năm 1959, tôi được mời vào dinh Độc lâp , nhân dịp tổng thống Thiệu mời các văn nghệ sĩ tham dự lễ phát thưởng giải văn chương toàn quốc- ông hỏi tôi có ý kiến gì không, tiện dịp, tôi nói với ông về bộ sách này bị kiểm duyệt làm khó dễ, cắt xén vô tội vạ, cấp giấy phép 1 , 2 tập trong bô. Ông cho biết ' .. anh cứ đưa cho tôi đọc ..'
tưởng là thật, tôi đưa bộ bản thảo đính kèm lá thư gửi tổng thống Thiệu, chuyển qua trung tá Trần văn Lâm ( hồi đó là giám đốc nha Báo chí Tổng thống phủ ) - thì, ông bạn này cho biết, không nên làm phiền tổng thống và trả lại bộ bản thảo. Thế là tôi thôi luôn.
H: - Để vượt khỏi tình trạng khó khăn trên, anh có dự định gì không ?
Đ :- Tình cảnh của nhà văn thơ Việtnam bi đát lắm ! Đừng nhìn vào những giải thưởng chói lòa đồng tiền vào dịp cuối năm mà cho rằng tất cả là ánh sáng chan hòa. Tôi nghĩ đến, có một ngày nào đó, nước ta sẽ có hội Bảo trợ Nhà văn, thơ - như bên Anh quốc, Hoa Kỳ có hội Bảo trợ Súc vật vậy. Con chó một khi bị đánh, bị giết, nếu có người tố cáo là bạn phải ra tòa, phải phạt vạ, có khi phải đi tù là đằng khác.
Nhưng anh cứ yên tâm đi, một mai, nước ta có hòa bình thật sự - tôi chắc đời sống dân Việt miền Nam sẽ được cải tiến rất nhiều. và khi ấy, đời sống người dân cao hơn, có tiền dư dả; từ đó, văn nghệ mới có đà tiến theo. Anh có nhớ xưa kia, có người treo giải thưởng một bộ xương ngựa quí đáng giá hàng ngàn đồng tiền vàng, là, để khích lệ người mạo hiểm đi tìm giống ngựa quí hiếm. Nhưng ban tuyển chọn ngựa quí hiếm kia cũng phải là người có lương tâm, có khả năng; chứ mà một bọn bè phái, tài năng ít hơn kẻ dự giải, thì làm sao mà hy vọng chúng ta có những tác phẩm hay thật sự, cũng như có giống ngựa quí hiếm thật sự !
H:- Nghe anh sắp xuất ngoại, anh có thể cho biết rõ về trường hợp này ?
Đ: - Chuyến xuất ngoại của tôi dự trù vào tháng 9 năm 1971 đến tháng 5 / 1972. Giáo sư kiêm thi sĩ Paul Engle đề nghị bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ( qua tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn / trung tâm Văn hóa Mỹ ) cấp học bổng cho tôi sang hội thảo bên ấy . Và, Dr Paul Engle , giám đốc chương trình International Writing Program ở Iowa. *
-----
* mời ba bốn lần, lần cuối tôi được mời tớp gặp cố văn văn hóa Lincoln , ông ta đưa tuyển tập thơ We promise one another do Don Luce +... sưu soạn, dịch thuật , phát hành tại Washington D.C năm 1971 - trong đó có bài thơ What a Sight 550, 000 Gi's in Vietnam ! / , mà Don Luce trích từ tập thơ của tôi in ở Saigon [không xin phép, tự ý cắt bớt, không đề tên dịch giả Đàm xuân Cận] , và ông Lincoln trả lời thẳng thắn, ' ông là thi sĩ phản chiến, chúng tôi không thể cấp visa, dầu ở Iowa đài thọ ăn, ở, tiền tàu xe v.v...'.
khi ấy, tư lệnh Không quân, tướng Trần văn Minh [còn là văn sĩ] gợi ý, ông có thể cho tôi đi làm hạ sĩ quan liên lạc KQ ở Mỹ, đến đó, tôi có thể đi họp ,không cần phải xin phép bất cứ ai
[ tướng Minh biết đại sứ Hoa kỳ tại VN, ngài E. Bunker từ chối cấp visa ]. Tôi cảm ơn thịnh tình tư lệnh K LVNCH, bởi , ở trại gia bình Phi Long, tôi + vợ + 5 con, đứa nhỏ nhất mới sanh - không có người làm, gia đình bên vợ ở Dalat , vợ tôi 1 mình trông con, giặt giũ, bếp nước. Thôi thì, đành lắc đầu có ý định đi Hoa Kỳ !!!
[ CHÚ THÍCH SAU - TP]
Đến , anh nói làm chi cũng phải đii uống rượu. Anh đứng lên có ý chờ .
Tôi cũng khoác chiếc áo ấm, rồi , cùng Thế Phong ra khỏi nhà. Đàlạt như một cánh cửa lơn mở vào những con đường dốc thênh thang vắng lặng. Tôi nghĩ đần một thứ chất ngất nồng ấm tình bằng hữu ở một quán rượu nào đó.
< hhtp://newvietart.com/index86.html>
trần hữu lục
thực hiện
chủ nhiệm: nguyễn thị yến
một bài phòng vấn
thế phong ở dalat
trần hữu lục thực hiện
Thế Phong lên Đà lạt tìm tôi vào một buổi tối. Vào lúc bấy giờ, mùa trăng thật đầy, bát ngát và lạnh lẽo. Vào nhà chưa kịp ngồi, là đã rối rít gọi đi uống rượu. Tôi nói khỏi phải đi đâu cả, nhà có sẵn rượu, mình ở lại nói chuyện ấm hơn. Thế Phong cười, nhìn quanh và hồ nghi. Anh thấy cái kệ sách, cái bàn viết, trông ly tách, rồi, nhắc lại ý kiến lúc nãy. Thế Phong vẫn thế, ồn ào, và vui vẻ, mái tóc ngắn khỏe mạnh, nét mặt đãng tử và nụ cười ngoan đồng, làm cho anh có cái nét nghệ sĩ thật lạ ! Con người nhà văn của anh, tôi vẫn thường thân mật đùa là một lão ngoan đồng Châu bá Thông trong văn nghệ. Nhận xét này đối với tôi, sau, khi đọc anh khá nhiều, nhất là, trong các cuốn tự sự Nửa đường đi xuống, Nhà văn tác phẩm cuộc đời ...
Thế Phong là một nghệ sĩ thành thật với mình và với đời :
'... Mười năm rồi và chỉ cần đối bóng với chính tôi thôi, tôi là một kẻ dám làm . Nếu tôi không là Thế Phong, tôi cũng hết chịu nổi tôi nữa ..'.
MƯỚI NĂM VĂN NGHỆ/ THẾ PHONG - ĐẠI NĂM VĂN HIẾN xuất bản, Saigon 1963 .
Chính vì cái type nghệ sĩ thành thực đó, Thế Phong đã đến với tôi hết sức cởi mở, thân tình của một người bạn văn và của một người có đời sống phù trầm trong tính cảnh cực đoan này. Tôi hỏi anh là có ý kiến chi về cái thư của tôi, khi, ngỏ ý muốn được gặp anh , để, thực hiện một cuộc phỏng vấn. Anh cười :
' Cách đây 2 hôm, có gặp L.m Nguyễn ngọc Lan ở Nxb Trình bày, tôi có nói với anh ấy, là, Lục định thực hiện cuộc phỏng vấn [một số] nhà văn, thơ về một số đề tài. [Trần hữu] Lục, nó nói đúng, là để cho tôi vuột khỏi tầm tay ở Đà lạt, thì, khó thực hiện cuộc phỏng vấn lắm '.
Nghe anh nói, quả thực tôi thiếu tế nhị. Tôi thấy hơi ngượng, lật đật đi pha cà-phê. Lúc tôi mang tách cà-phê bốc đặt lên bàn, anh đang đứng nhìn trăng ngoài cửa kính. Tôi nhắc lại cảm giác khó quên, khi đọc bài thơ Nhật ký chết trận của anh đăng trên Đất nước số 7, cùng một vài kỷ niệm hồi còn viết chung ở tạp chí Đất nước . Tôi cũng rào đón trước , rằng :
'... viết về Thế Phong cũng có một vài tác giả viết rồi, chẳng hạn, Cao thế Dung trong Thi nhân VN hậu chiến, Du tử Lê trong Năm sắc diên năm định mệnh , Nguyễn đình Tuyến trong Nhà thơ hôm nay, hoặc, trong Introduction à la littérature vietnamienne của Maurice M. Durand và Nguyên-tran Huân.. Tôi không viết về anh trong chiều hướng đó, tôi chỉ xin hỏi anh vài điều liên quan đến hoàn cảnh cùng vi trò của người cầm bút . Đồng ý ? Và đây là một số câu hỏi tiêu biểu :
HỎI : - Anh cho biết khởi sự viết văn từ năm nào ?
ĐÁP - Khởi sự viết từ tháng 11 năm 1952 ở Hànội, lúc đó còn đi học và cũng là tháng [mà] CS chiếm Nghĩa lộ [huyện Văn chấn, tỉnh Yên bái], quê hương của tôi , từ đó, mất cả bà mẹ già yêu quí. Tôi viết bài đầu tiên, ký tên TƯƠNG HUYỀN , nhan đề Đời học sinh , đăng trên báo
' Tia sáng' ở Hànội vào cuối 1952.'
H: - Cho biết chiều hướng sáng tác của anh ?
Đ : - Văn chương, thi ca của tôi là lịch sử sự sống một thời của tôi, cộng thêm hoàn cảnh xã hội mà tôi sống trong đó . Bao giờ tôi cũng đứng về phía bị áp bức, bị bóc lột, bị trà đạp; để, từ đó nói lên điều không may mắn trong' cái đời gọi là làm người của nhược tiểu dân tộc .'
H: - Anh thường gặp khó khăn nào trong lúc cầm bút ?
Đ: - Có 2 con đường để đi, bất cứ với ai vào nghề cầm bút. Thứ nhất, nếu cá nhân không đủ
' cran' để đi vào con đường gồ ghề chưa một ai khai phá ; thì, nên đi vào con đường đã vạch sẵn, dễ đi hơn. Thứ hai, con đường chính mình là kẻ dẫn đạo để đi, thì, tất nhiên gai góc, mệt nhọc, vất vả. Tôi đồng ý với Thomas Mann về điều này, được viết trong' Ngọn núi bí ẩn' [Le Montagne Magique]. Và, bạn cũng đã thấy quá nhiều minh chứng trong lịch sử cuộc đời va sự nghiệp của người cầm bút trong nước cũng như ngoại quốc.
H: - Hoàn cảnh của người cầm bút hôm nay có khó khăn hơn những người cầm bút sau năm 1945 ? và cho biết thêm ý kiến về những người cầm bút trong hoàn cảnh cực đoan này.
Đ:- Tôi rất thích thơ Luân Hoán, những bài nói về hoàn cảnh xót xa của đất nước, trong , hòa bình và đời sống dân nhược tiểu. Trong đó, đề cập chiến tranh, hòa bình và đời sống của dân nhược tiểu. Về văn, tôi rất thích những bút ký chiến tranh của Phan nhật Nam, như, trong Dấu binh lửa, Dọc đường số 1 ..., nói về đời sống chiến sĩ, dân chúng trong những ngày khói lửa; đọc lên thấy xót xa , chua chát tận cùng ! Những bài thơ Luân Hoán, văn Phan nhật Nam nên dịch sang anh ngữ, cho thế giới đọc, để, họ hiểu chiều hướng và cuộc sống người dân miền Nam, trong hoàn cảnh sống, tranh đấu thực như thế nào ? Và ít ra, thì, người ngoại quốc hiểu rõ được hơn.
H: - Anh cho biết qua tình trạng xuất bản , cùng những khó khăn mà anh gặp phải ?
Đ : - Từ 1959 đến 1964 xuất bản bằng cách in rô-nê-ô những tác phẩm của tôi hay anh chị em từng quây quần trong Nxb Đại Nam văn hiến. Vì giai đoạn ấy, chúng tôi không chấp nhận loại tác phẩm được gọi là chống Cộng, tố Cộng, theo kiểu đặt hàng. Như Mai Thảo với cái được gọi là tác phẩm, cuốn ' Ánh sáng miền Nam' , hoặc tạp chí Sáng tạo v.v... Nhưng không phải vậy mà chúng ta không cần đến ' loại tác phẩm',cũng đành phải gọi là tác phẩm , [ về phương diện ' văn dĩ tải đạo] phục vụ cho một giai đoạn chính trị]. Có điều tôi muốn nói là, đùng bắt tất cả ai cũng phải viết theo lối đặt hàng trên, và, những ai đã ' ở trong công tác làm văn công kiểu Mai Thảo, thì hãy nên gục đầu xuống khi gặp bạn bè. Chứ đừng ' bán trôn nuôi miệng', lại mồm loa mép dải rằng mình đích thực là con nhà lành.' * Anh [Trần hữu] Lục và bạn đọc có đồng ý như thế
không ? Càng hơn nữa , đừng có ý hướng hãm hại những ai chưa bị đồng tiền lung lạc.
-----
* USIS tung tiền , hợp đồng với Mai Thảo để phóng tác cuốn truyện Ánh sáng miền Nam [ từ một cuốn phim tuyên truyền của Hoa Kỳ] hoặc, William Tucker cấp tiền làm báo, giao cho một người Việt, tên Nguyễn đăng Quý] làm chủ nhiệm tờ báo Sáng tạo, đồng thời gài người làm quản lý[ Đặng lê Kim[ để kiểm soát vấn đề tài chính . [ Chú thích sau - TP]
Từ 1964, tôi cho in những tác phẩm mà trước kia [ thời đệ I Công hòa / Ngô đình Diệm] cấm , như ' Nửa đường đi xuống' ,' Việtnam bi thảm Đông dương ' [dịch] ,' Nhận diện vóc dáng Nguyễn đức Quỳnh', ' Friedrich Nietzsche và Chủ nghĩa đi lên con người', 'Thủy và T6', ' Chiếc roi ngựa' ...
Một truyện ngắn Khu rác ngoại thành còn được chuyển dịch pháp ngữ, in trong tuyển tập thơ, truyện Le Crépuscule de la violence [Nxb Trính bày], ts Lê văn Hào [Lê Hào]. Và cũng truyện ngắn này, trước đó, Cao Giao [Huỳnh văn Phẩm] chuyển dịch pháp văn, phóng viên Jean-Claude Pomonti báo Le Monde cho đăng trên Le Monde Diplomatique vào tháng 12 năm 1970.
và tạp chí TENGGARA ( Đại học Malaya / Kuala Lumpur ) đã trích đăng lại một số bài thơ + văn của tôi trong các thi phẩm Vietnam under fire & flames * - 'South Vietnam, the Baby in the arms of the American nurse ', liên tiếp từ 1968 tới 1973.
----
* ... In looking for the best work by Southeast Asian writers, TENGGARA plays its quite literally by ar. The 1967 number was much enhanced by, among much other excellent work, the tragic simplicity of Taufiq Ismail's poems. Readers of that issue will know how Taufiq's poems were obtained . For the present issue we were fortunate again in discovering the English translation of a book of poems by the Vietnmese poet, Thêphong. The selection we publish here is a moving reminder of the spiritual devastation and waste his country has undergone for twenty years without respite. We hope to publish more of Thêphong's work in the near future ...'
TENGGARA DIARY 2 / 1968.
[CHÚ THÍCH SAU- TP]
còn bộ sách phê bình văn học Lược sử văn nghệ Việtnam 1900- 1956, gồm 4 tập - 1) Nhà văn tiền chiến 1930- 1945 - 2) Nhà văn kháng chiến chủ lực 1945- 1950 + Nhà văn miền Nam 1945- 1950 - 3) Nhà văn hậu chiến 1950 - 4) Tổng luận 60 năm văn nghệ Việtnam 1900 - 1956 ., bị kiểm duyệt, cắt xén, không cấp phép xuất bản. Thế rồi ,
... năm 1959, tôi được mời vào dinh Độc lâp , nhân dịp tổng thống Thiệu mời các văn nghệ sĩ tham dự lễ phát thưởng giải văn chương toàn quốc- ông hỏi tôi có ý kiến gì không, tiện dịp, tôi nói với ông về bộ sách này bị kiểm duyệt làm khó dễ, cắt xén vô tội vạ, cấp giấy phép 1 , 2 tập trong bô. Ông cho biết ' .. anh cứ đưa cho tôi đọc ..'
tưởng là thật, tôi đưa bộ bản thảo đính kèm lá thư gửi tổng thống Thiệu, chuyển qua trung tá Trần văn Lâm ( hồi đó là giám đốc nha Báo chí Tổng thống phủ ) - thì, ông bạn này cho biết, không nên làm phiền tổng thống và trả lại bộ bản thảo. Thế là tôi thôi luôn.
H: - Để vượt khỏi tình trạng khó khăn trên, anh có dự định gì không ?
Đ :- Tình cảnh của nhà văn thơ Việtnam bi đát lắm ! Đừng nhìn vào những giải thưởng chói lòa đồng tiền vào dịp cuối năm mà cho rằng tất cả là ánh sáng chan hòa. Tôi nghĩ đến, có một ngày nào đó, nước ta sẽ có hội Bảo trợ Nhà văn, thơ - như bên Anh quốc, Hoa Kỳ có hội Bảo trợ Súc vật vậy. Con chó một khi bị đánh, bị giết, nếu có người tố cáo là bạn phải ra tòa, phải phạt vạ, có khi phải đi tù là đằng khác.
Nhưng anh cứ yên tâm đi, một mai, nước ta có hòa bình thật sự - tôi chắc đời sống dân Việt miền Nam sẽ được cải tiến rất nhiều. và khi ấy, đời sống người dân cao hơn, có tiền dư dả; từ đó, văn nghệ mới có đà tiến theo. Anh có nhớ xưa kia, có người treo giải thưởng một bộ xương ngựa quí đáng giá hàng ngàn đồng tiền vàng, là, để khích lệ người mạo hiểm đi tìm giống ngựa quí hiếm. Nhưng ban tuyển chọn ngựa quí hiếm kia cũng phải là người có lương tâm, có khả năng; chứ mà một bọn bè phái, tài năng ít hơn kẻ dự giải, thì làm sao mà hy vọng chúng ta có những tác phẩm hay thật sự, cũng như có giống ngựa quí hiếm thật sự !
H:- Nghe anh sắp xuất ngoại, anh có thể cho biết rõ về trường hợp này ?
Đ: - Chuyến xuất ngoại của tôi dự trù vào tháng 9 năm 1971 đến tháng 5 / 1972. Giáo sư kiêm thi sĩ Paul Engle đề nghị bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ( qua tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn / trung tâm Văn hóa Mỹ ) cấp học bổng cho tôi sang hội thảo bên ấy . Và, Dr Paul Engle , giám đốc chương trình International Writing Program ở Iowa. *
-----
* mời ba bốn lần, lần cuối tôi được mời tớp gặp cố văn văn hóa Lincoln , ông ta đưa tuyển tập thơ We promise one another do Don Luce +... sưu soạn, dịch thuật , phát hành tại Washington D.C năm 1971 - trong đó có bài thơ What a Sight 550, 000 Gi's in Vietnam ! / , mà Don Luce trích từ tập thơ của tôi in ở Saigon [không xin phép, tự ý cắt bớt, không đề tên dịch giả Đàm xuân Cận] , và ông Lincoln trả lời thẳng thắn, ' ông là thi sĩ phản chiến, chúng tôi không thể cấp visa, dầu ở Iowa đài thọ ăn, ở, tiền tàu xe v.v...'.
khi ấy, tư lệnh Không quân, tướng Trần văn Minh [còn là văn sĩ] gợi ý, ông có thể cho tôi đi làm hạ sĩ quan liên lạc KQ ở Mỹ, đến đó, tôi có thể đi họp ,không cần phải xin phép bất cứ ai
[ tướng Minh biết đại sứ Hoa kỳ tại VN, ngài E. Bunker từ chối cấp visa ]. Tôi cảm ơn thịnh tình tư lệnh K LVNCH, bởi , ở trại gia bình Phi Long, tôi + vợ + 5 con, đứa nhỏ nhất mới sanh - không có người làm, gia đình bên vợ ở Dalat , vợ tôi 1 mình trông con, giặt giũ, bếp nước. Thôi thì, đành lắc đầu có ý định đi Hoa Kỳ !!!
[ CHÚ THÍCH SAU - TP]
Đến , anh nói làm chi cũng phải đii uống rượu. Anh đứng lên có ý chờ .
Tôi cũng khoác chiếc áo ấm, rồi , cùng Thế Phong ra khỏi nhà. Đàlạt như một cánh cửa lơn mở vào những con đường dốc thênh thang vắng lặng. Tôi nghĩ đần một thứ chất ngất nồng ấm tình bằng hữu ở một quán rượu nào đó.
< hhtp://newvietart.com/index86.html>
trần hữu lục
thực hiện
Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013
chuyện tình - love story / erich segal - bản việt văn : phạm lệ thanh - 8
chuyện tình - erich segal /
phan lệ thanh dịch - saigon 1973.
chuyện tình / love story - erich segal
bản việt văn : phan lệ thanh
8
- Jenny, em làm như ông ấy lên chức bộ trưởng Ngoại giao không bằng .
Cuối cùng, chúng tôi cũng ra khỏi nhà, lên đường về Cambridge. Hú vía !
- Dù sao anh cũng phải tỏ ra vui mừng hơn chút nữa mới phải, Olivier ạ.
- Anh chẳng chúc nừng ông ấy là gì.
- Anh hào phóng quá nhỉ ?
- Em còn muốn gì nữa ? Trời !
- Em ớn mọi chuyện quá rồi !
- Anh xin làm đồng bạn nhé .
Chúng tôi không nói với nhau lời nào, suốt một quãng đường dài. Nhưng tôi biết có chuyện trục trặc. Tôi hỏi, sau khi suy nghĩ hồi lâu :
- Jen, cái gì làm em ớn ?
- Cái lối cư xử bỉ ổi của anh đối với ba anh.
- Thế còn lối cư xử bỉ ổi của ông ta đối với anh, thì sao nào ?
Tôi vừa mở trúng hũ tương. Hay, đúng hơn, hộp nước sốt cà chua. Vì lập tức, Jenny tuôn ra một bài cảnh cáo tội xúc phạm tình phụ tử. Đúng là máu dân Ý - Địa trung hải. Và tội bất hiếu của tôi.
- Anh chỉ lo chơi xỏ ông, chơi ông hoài hoài.
- Ngược lại cũng vậy. Em không thấy sao , Jen ?
- Chắc anh không từ việc gì, miễn là chọc tức được bố anh.
- Không ai chọc tức được Olivier Barrett III.
Nàng yên lặng suy nghĩ một lúc, trước khi trả lời:
- Trừ khi anh cưới Jennifer Cavilleri ...
Tôi cố giữ bình tĩnh đu để thì giờ đậu xe vào sân một quán ăn hải sản bên đường. Rồi tôi quay sang Jennifer, hằm hằm tức giận. Tôi gạn hỏi :
- Em nghĩ vậy hả ?
Nàng nói rất khẽ :
- Em nghĩ một phần là như vậy.
Tôi hét lên :
- Jenny, em không tin là anh yêu em sao ?
Nàng trả lời rất khẽ:
- Có, nhưng hình như anh còn yêu cả cái địa vị hèn kém của anh nữa.
Tôi chẳng biết nói gì hơn là trả lời không đúng. Nhắc đi nhắc lại câu phủ nhận vài lần, mỗi lần lại đội giọng.. Nghĩa là, tôi xúc động vô cùng : tôi nghĩ có thể có một chút sự thật trong điều nàng nói, dù, sự thật này phũ phàng quá .
Nàng cũng xúc động chẳng kém
- Em không có quyền phán đoán anh, Olivier ạ. Nhưng em nghĩ, em nói ra, chính vì thế. Em yêu anh không phải vì con người anh mà thôi. Em yêu cả tên anh. Cả con số sau tên anh nữa.
Nàng ngoảnh mặt đi, và, tôi tưởng nàng sắp òa khóc. Nhưng không, nàng nói điều đang nghĩ :
- Chẳng gì những thứ này cũng là một phần con người anh.
Tôi ngồi yên ngắm hàng chữ bằng đèn nê-ông bật, tắt : Quán Sò Hến . Cái mà tôi yêu nhất ở là tài nàng nhìn thấu tận tâm hồn tôi, tài đoán hiểu những điều tôi không bao giờ nghĩ đến chuyện đúc ép thành lời. Lúc này, nàng vẫn chỉ là nàng mọi khi. Nhưng làm sao tôi chịu nổi sự khám phá rằng tôi là người không hoàn toàn ? Tội nghiệp, nàng phải chịu đựng cái không hoàn toàn của tôi và cả sự không hoàn toàn của
nàng nữa ...
Trời ơi tôi thấy ngượng quá !
Tôi chẳng biết mở miệng ra sao nữa.
- Muốn ăn sò, hến gì không, Jen ?
- Muốn ăn đấm không, cậu bé ?
- Có.
Nàng nắm tay lại rồi đặt nhẹ nắm đấm trên má tôi. Tôi hôn tay nàng, với sang định ôm nàng vào lòng, nhưng, nàng lấy tay đẩy tôi ra và cọc cằn ra lệnh như một tên anh chị chính cống :
- Lái xe đi, cậu bé ! Cầm lấy tay lái và chạy lẹ lên !
- Xin tuân lệnh. Tuân lệnh ...
***
Ba tôi chỉ phê bình có một câu là tôi quyết định mau lẹ quá. Vội vàng quá, hấp tấp quá. Tôi không nhớ đúng từng chữ ông dùng, nhưng, đại khái, tôi nhớ bài thuyết giáo đặc biệt về sự vội vã của tôi, kéo dài bữa cơm trưa tạo hội quán Harvard. Để giáo đầu, ông khuyên tôi, không nên nuốt chửng thức ăn như vậy.
Tôi lễ phép trình bày rằng, tôi đã lớn và ông không nên sử chữa - hoặc, chỉ trích - cách cư xử của tôi nữa. Ông nói, ngay cả các nhà lãnh đạo quốc tế cũng còn có lúc cần đến lời phê bình có tính cách xây dựng. Tôi cho rằng ông định ám chỉ một cách không được khéo léo cho lắm, [ấy là vào] giai đoạn ông tham gia chính quyền tại Washington, dưới thời Roosevelt. Nhưng, mục đích của tôi, đâu phải gợi cho ông kể lại những kỷ niệm về F.D.ROOSEVELT, hoặc về vai trò ông giữ trong việc cải tổ chế độ ngân hàng Mỹ. nên tôi đành câm miệng.
Chúng tôi ăn cơm trưa tại hội quán Harvard ở Boston.( tôi ăn quá nhanh, theo tiêu chuẩn
của cha tôi ).Chung quanh toàn là bạn bè quen thuộc của ông cả. Bạn cùng lớp, thân chủ, hâm-mộ-viên và v.v....
Một pha dàn cảnh đúng nghĩa. Để ý nghe, tôi sẽ thấy vài tiếng thì thầm,' Olivier Barrett đấy ! ', hoặc,
' Barrett, tay thể- tháo-gia đại tài đấy !'.
Lại thêm một màn không-nói-chuyện. Có điều là bản chất không rõ rệt của câu chuyện hôm nay lộ liễu hẳn ra.
- Thưa ba, sao ba không cho con biết ý kiền về Jennifer.
- Còn ý kiến gì nữa/ Con đặt ba mẹ trước một tình trạng đã rồi, còn gì mà nói ?
- Nhưng riêng ba, nghĩ sao ạ ?
- Ba nghĩ Jennifer là con nhà tử tế. Và, với một hoàn cảnh gia đình như vậy, mà cũng chịu khó vào được Radcliffe ...
Ông lảm nhảm những lời , nửa khen, nửa không khen để lảng tránh vấn đề.
- Ba nói thẳng vào đề đi chứ .
- Vấn đề không liên quan gì đến cô gái đó, vấn đề chính là con.
- Hự ?
- Sự nổi loạn của con . Con đang nổi loạn đấy.
-Thưa ba, con không hiểu nổi , tại sao cưới một sinh viên Radciffe xinh đẹp, học giỏi, lại là nổi loạn ? Cô ấy đâu phải hippie hoang loạn gì cho cam !
- Cô ấy không phải ...ở nhiều thứ lắm ...
- À ra thế, những tiểu tiết rất khỉ gió ấy mà ..
- Cái gì làm ba khó chịu nhất, hả ba ? cô ta theo đạo Công giáo, hay vì, cô ta là gia đình nghèo ?.
Ông hơi chồm người lên, để ghế sát gần tai tôi, trả lời giọng thì thầm .
- Con thích cái gì nhất ?
Tôi muốn đứng dậy, và, rời bàn ăn ngay, tôi muốn cho ông biết [ phản ứng của tôi] thế đấy.
- Ngồi yên nào, nói cho đàng hoàng cho ra người lớn .
Người trái ngược với cái gì nào? trẻ con ra sao? Đàn bà ? Chuột nhắt ư? tuy nhiên, tôi cũng ngồi yên lặng.
Thằng chả có vẻ thoả mãn lắm, vì, tôi chịu ngồi lại. Tôi dám nói ông coi đấy là một trong những chiến thắng đối với tôi .
- Ba chỉ muốn con đợi một thời gian nữa..
- Xin ba định nghĩa chữ một thời gian nữa là thế nào ?
- Đến khi học xong Luật đã, nếu yêu nhau thật, thử thách một thời gian đâu có hại gì...
- Chúng con yêu nhau thật, nhưng, việc quái gì con phải chịu để ai đặt ra sự thử thách ?
Tôi nói thế là rõ ràng lắm rồi, phải, tôi đã chống lại ông. Tôi chống lại sự điều khiển, kiềm chế đời tôi mà ông tự bắt ông phải nói vậy.
Ông bắt đầu một mặt trận mới
- Olivier, con chưa đến tuổi ...
- Chưa đến tuổi để làm gì ạ ?
Tôi bắt đầu nóng mặt, sư bố khỉ !!!
- Con chưa tới hai mươi mốt, theo luật định thì chưa là người lớn.
- Sao ba không đem luật pháp về nhà mà thờ, Sư nó, chứ luật với lệ !!!
Hinh như vài khách ăn ở bàn quanh đấy nghe tiếng tôi chửi thề. Như để đáp lại sự thô lỗ của tôi,
Olivier III nghiến răng nói thầm vào tai tôi :
- Lấy nó đi, rồi tao sẽ không để cho mày được sung sướng đâu, con ?
[Nghĩ thầm] tôi sợ chó gì ai ?
- Thưa ba, ba đâu biết sung sướng là gì đâu ?
Tôi ra khỏi đời ông và bắt đầu sống đời tự lập từ lúc đó.
[]
( kỳ sau : chương 9 )
erich segal
PHAN LỆ THANH dịch
( Sđd: tr. 85 - 93)
phan lệ thanh dịch - saigon 1973.
chuyện tình / love story - erich segal
bản việt văn : phan lệ thanh
8
- Jenny, em làm như ông ấy lên chức bộ trưởng Ngoại giao không bằng .
Cuối cùng, chúng tôi cũng ra khỏi nhà, lên đường về Cambridge. Hú vía !
- Dù sao anh cũng phải tỏ ra vui mừng hơn chút nữa mới phải, Olivier ạ.
- Anh chẳng chúc nừng ông ấy là gì.
- Anh hào phóng quá nhỉ ?
- Em còn muốn gì nữa ? Trời !
- Em ớn mọi chuyện quá rồi !
- Anh xin làm đồng bạn nhé .
Chúng tôi không nói với nhau lời nào, suốt một quãng đường dài. Nhưng tôi biết có chuyện trục trặc. Tôi hỏi, sau khi suy nghĩ hồi lâu :
- Jen, cái gì làm em ớn ?
- Cái lối cư xử bỉ ổi của anh đối với ba anh.
- Thế còn lối cư xử bỉ ổi của ông ta đối với anh, thì sao nào ?
Tôi vừa mở trúng hũ tương. Hay, đúng hơn, hộp nước sốt cà chua. Vì lập tức, Jenny tuôn ra một bài cảnh cáo tội xúc phạm tình phụ tử. Đúng là máu dân Ý - Địa trung hải. Và tội bất hiếu của tôi.
- Anh chỉ lo chơi xỏ ông, chơi ông hoài hoài.
- Ngược lại cũng vậy. Em không thấy sao , Jen ?
- Chắc anh không từ việc gì, miễn là chọc tức được bố anh.
- Không ai chọc tức được Olivier Barrett III.
Nàng yên lặng suy nghĩ một lúc, trước khi trả lời:
- Trừ khi anh cưới Jennifer Cavilleri ...
Tôi cố giữ bình tĩnh đu để thì giờ đậu xe vào sân một quán ăn hải sản bên đường. Rồi tôi quay sang Jennifer, hằm hằm tức giận. Tôi gạn hỏi :
- Em nghĩ vậy hả ?
Nàng nói rất khẽ :
- Em nghĩ một phần là như vậy.
Tôi hét lên :
- Jenny, em không tin là anh yêu em sao ?
Nàng trả lời rất khẽ:
- Có, nhưng hình như anh còn yêu cả cái địa vị hèn kém của anh nữa.
Tôi chẳng biết nói gì hơn là trả lời không đúng. Nhắc đi nhắc lại câu phủ nhận vài lần, mỗi lần lại đội giọng.. Nghĩa là, tôi xúc động vô cùng : tôi nghĩ có thể có một chút sự thật trong điều nàng nói, dù, sự thật này phũ phàng quá .
Nàng cũng xúc động chẳng kém
- Em không có quyền phán đoán anh, Olivier ạ. Nhưng em nghĩ, em nói ra, chính vì thế. Em yêu anh không phải vì con người anh mà thôi. Em yêu cả tên anh. Cả con số sau tên anh nữa.
Nàng ngoảnh mặt đi, và, tôi tưởng nàng sắp òa khóc. Nhưng không, nàng nói điều đang nghĩ :
- Chẳng gì những thứ này cũng là một phần con người anh.
Tôi ngồi yên ngắm hàng chữ bằng đèn nê-ông bật, tắt : Quán Sò Hến . Cái mà tôi yêu nhất ở là tài nàng nhìn thấu tận tâm hồn tôi, tài đoán hiểu những điều tôi không bao giờ nghĩ đến chuyện đúc ép thành lời. Lúc này, nàng vẫn chỉ là nàng mọi khi. Nhưng làm sao tôi chịu nổi sự khám phá rằng tôi là người không hoàn toàn ? Tội nghiệp, nàng phải chịu đựng cái không hoàn toàn của tôi và cả sự không hoàn toàn của
nàng nữa ...
Trời ơi tôi thấy ngượng quá !
Tôi chẳng biết mở miệng ra sao nữa.
- Muốn ăn sò, hến gì không, Jen ?
- Muốn ăn đấm không, cậu bé ?
- Có.
Nàng nắm tay lại rồi đặt nhẹ nắm đấm trên má tôi. Tôi hôn tay nàng, với sang định ôm nàng vào lòng, nhưng, nàng lấy tay đẩy tôi ra và cọc cằn ra lệnh như một tên anh chị chính cống :
- Lái xe đi, cậu bé ! Cầm lấy tay lái và chạy lẹ lên !
- Xin tuân lệnh. Tuân lệnh ...
***
Ba tôi chỉ phê bình có một câu là tôi quyết định mau lẹ quá. Vội vàng quá, hấp tấp quá. Tôi không nhớ đúng từng chữ ông dùng, nhưng, đại khái, tôi nhớ bài thuyết giáo đặc biệt về sự vội vã của tôi, kéo dài bữa cơm trưa tạo hội quán Harvard. Để giáo đầu, ông khuyên tôi, không nên nuốt chửng thức ăn như vậy.
Tôi lễ phép trình bày rằng, tôi đã lớn và ông không nên sử chữa - hoặc, chỉ trích - cách cư xử của tôi nữa. Ông nói, ngay cả các nhà lãnh đạo quốc tế cũng còn có lúc cần đến lời phê bình có tính cách xây dựng. Tôi cho rằng ông định ám chỉ một cách không được khéo léo cho lắm, [ấy là vào] giai đoạn ông tham gia chính quyền tại Washington, dưới thời Roosevelt. Nhưng, mục đích của tôi, đâu phải gợi cho ông kể lại những kỷ niệm về F.D.ROOSEVELT, hoặc về vai trò ông giữ trong việc cải tổ chế độ ngân hàng Mỹ. nên tôi đành câm miệng.
Chúng tôi ăn cơm trưa tại hội quán Harvard ở Boston.( tôi ăn quá nhanh, theo tiêu chuẩn
của cha tôi ).Chung quanh toàn là bạn bè quen thuộc của ông cả. Bạn cùng lớp, thân chủ, hâm-mộ-viên và v.v....
Một pha dàn cảnh đúng nghĩa. Để ý nghe, tôi sẽ thấy vài tiếng thì thầm,' Olivier Barrett đấy ! ', hoặc,
' Barrett, tay thể- tháo-gia đại tài đấy !'.
Lại thêm một màn không-nói-chuyện. Có điều là bản chất không rõ rệt của câu chuyện hôm nay lộ liễu hẳn ra.
- Thưa ba, sao ba không cho con biết ý kiền về Jennifer.
- Còn ý kiến gì nữa/ Con đặt ba mẹ trước một tình trạng đã rồi, còn gì mà nói ?
- Nhưng riêng ba, nghĩ sao ạ ?
- Ba nghĩ Jennifer là con nhà tử tế. Và, với một hoàn cảnh gia đình như vậy, mà cũng chịu khó vào được Radcliffe ...
Ông lảm nhảm những lời , nửa khen, nửa không khen để lảng tránh vấn đề.
- Ba nói thẳng vào đề đi chứ .
- Vấn đề không liên quan gì đến cô gái đó, vấn đề chính là con.
- Hự ?
- Sự nổi loạn của con . Con đang nổi loạn đấy.
-Thưa ba, con không hiểu nổi , tại sao cưới một sinh viên Radciffe xinh đẹp, học giỏi, lại là nổi loạn ? Cô ấy đâu phải hippie hoang loạn gì cho cam !
- Cô ấy không phải ...ở nhiều thứ lắm ...
- À ra thế, những tiểu tiết rất khỉ gió ấy mà ..
- Cái gì làm ba khó chịu nhất, hả ba ? cô ta theo đạo Công giáo, hay vì, cô ta là gia đình nghèo ?.
Ông hơi chồm người lên, để ghế sát gần tai tôi, trả lời giọng thì thầm .
- Con thích cái gì nhất ?
Tôi muốn đứng dậy, và, rời bàn ăn ngay, tôi muốn cho ông biết [ phản ứng của tôi] thế đấy.
- Ngồi yên nào, nói cho đàng hoàng cho ra người lớn .
Người trái ngược với cái gì nào? trẻ con ra sao? Đàn bà ? Chuột nhắt ư? tuy nhiên, tôi cũng ngồi yên lặng.
Thằng chả có vẻ thoả mãn lắm, vì, tôi chịu ngồi lại. Tôi dám nói ông coi đấy là một trong những chiến thắng đối với tôi .
- Ba chỉ muốn con đợi một thời gian nữa..
- Xin ba định nghĩa chữ một thời gian nữa là thế nào ?
- Đến khi học xong Luật đã, nếu yêu nhau thật, thử thách một thời gian đâu có hại gì...
- Chúng con yêu nhau thật, nhưng, việc quái gì con phải chịu để ai đặt ra sự thử thách ?
Tôi nói thế là rõ ràng lắm rồi, phải, tôi đã chống lại ông. Tôi chống lại sự điều khiển, kiềm chế đời tôi mà ông tự bắt ông phải nói vậy.
Ông bắt đầu một mặt trận mới
- Olivier, con chưa đến tuổi ...
- Chưa đến tuổi để làm gì ạ ?
Tôi bắt đầu nóng mặt, sư bố khỉ !!!
- Con chưa tới hai mươi mốt, theo luật định thì chưa là người lớn.
- Sao ba không đem luật pháp về nhà mà thờ, Sư nó, chứ luật với lệ !!!
Hinh như vài khách ăn ở bàn quanh đấy nghe tiếng tôi chửi thề. Như để đáp lại sự thô lỗ của tôi,
Olivier III nghiến răng nói thầm vào tai tôi :
- Lấy nó đi, rồi tao sẽ không để cho mày được sung sướng đâu, con ?
[Nghĩ thầm] tôi sợ chó gì ai ?
- Thưa ba, ba đâu biết sung sướng là gì đâu ?
Tôi ra khỏi đời ông và bắt đầu sống đời tự lập từ lúc đó.
[]
( kỳ sau : chương 9 )
erich segal
PHAN LỆ THANH dịch
( Sđd: tr. 85 - 93)
Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013
nhạc sĩ lê mộng bảo ( 1923- 2007) : một thân phận / bài viết : đức hà / báo việt mercury, usa
lê mộng bảo: một thân phận nghèo / đức hà
báo việt mercury / usa - ngày 29- 3- 2002
lê mộng bảo :
một thân phận nghèo
bài viết : đức hà
' Nếu biết gia đình tôi nghèo, hỏi rằng người ấy nghĩ làm sao; Có hờn có dỗi lúc xa nhau, có còn như lúc ban đầu, còn thắm hay tình phai màu ...'
là câu trích từ [ca khúc] Phận nghèo do Lê mộng Bảo sáng tác, [ca sĩ] Giao Linh trình bày lần đầu tiên, với ban nhạc Văn Phụng cách đây hơn 50 năm.
Vào năm 1971, khi sáng tác Phận nghèo. , Lê mộng Bảo là giám đốc [chí nhánh] tại số 51 Trần hưng Đạo, Saigon 1, một nhà kho trên đường Bùi quang Chiêu và hệ thống phân phối văn phòng phẩm suốt từ Cà mau đến Quảng trị. Ông viết về phận nghèo, nhưng ông không nghèo.
Tuy nhiên giớ đây thì ông thật sự nghèo, cộng thêm căn bệnh về hô hấp, bên cạnh một trí nhớ sa sút vàcặp mắt mù mờ.
Hiện nay, ông sống trong một căn nhà 5x5 mét tại Milpitas, với sách vở, báo chí và hình ảnh để la liệt trên bàn , trên kệ, trong tủ, trên chiếc giường xin của hội từ thiện. Bên dưới bàn là kho thực phẩm của ông, từ mí gói, sữa bột, đồ hộp của các cơ sở xã hội và tôn giáo cho, mà, ông nói rằng ' có sao ăn vậy'.
Món mì thập cẩm là món mì ăn liền, nấu với bất cứ cái gì có thể bỏ vô , từ kho thực phẩm của ông.
' ...mỗi tháng, anh được tiền trợ cấp là 732 đô-la, phải chi tiêu thật kỹ, nếu không thì hụt', ông cho biết.
Ông không bao giờ ngờ [về] những đổi thay của cuộc đời đã đưa ông đến ngày hôm nay, nhưng, tính lạc quan,[nên] ông không mất nụ cười luôn nở trên môi. Ông cười và cám ơn rối rít, khi có bạn đến thăm ông, tâm tình đôi ba chuyện ngày xưa.
' Bạn bè đến chơi lúc nào cũng được, ' anh ' vui lắm ', ông hay xưng bằng' anh' , cho dù năm nay đã 77 tuổi.
Ông chia căn nhà ,diện housing, với người vợ ly thân từ 20 năm nay và 2 người con, một, mới từ Vietnam sang, còn đang học nghề và một bị thất nghiệp tứ tháng 10 năm ngoái. Bốn người con của ông vẫn còn sống bên Việtnam *: ' Cũng may, mà còn có trợ cấp, có Medicare', ông nói.
----
* lần về Saigon, đâu đó vào 2002, LMB đến thăm tôi ( TP ) vài lần, lên sân thượng cùng chụp chung một số tấm làm kỷ niệm, và, đưa tôi nhà các con anh , trong một căn nhà trệt trong ngõ hẻm đường Tôn thất Tùng, quận 1. ( đường cũ: Bùi Chu] . Nhắc lại một vài ký ức Saigon cũ, anh lại cười và không thấy lộ vẻ buồn rầu nào , có nghĩa là, vẫn như ngày xưa vậy - kể cả lúc giận, chỉ đỏ mặt. Thủ bút viết cho tôi rất bay bướm, đẹp, nét tròn, to :
' Anh Thế Phong / rất cảm ơn anh Phong, Bảo đã nhận ảnh lưu niệm . Đa tạ '
( tp .HCM ngày 18-07- 02 ' - LÊ MỘNG BẢO)
[ Le Mong Bao 1185 Milpitas, CA 95035 USA ]
Ông cũng trích ra một số nhỏ để đóng cho một hội tương tế từ năm 1991, để
'... Ít ra khi chết cũng có tiền chôn cất, không đến nỗi bó chiếu .'
Khi đi định cư tại Hoa Kỳ theo chương trình H.O. năm 1993 , ông cũng lại sinh hoạt văn hóa, văn nghệ và âm nhạc như thủa xưa, nhưng, qua nước Mỹ quá rộng lớn, ca , nhạc sĩ ở cách xa nhau không như [ở]Vietnam trước đây, cứ ra nhà hàng Thanh Thế, gần [ đường] Tạ thu Thâu là gặp hầu hết mọi khuôn mặt văn nghệ sĩ của Sài Gòn.
Ông kể rằng, khi nhóm của ông, gồm : Lê Dinh, Anh Bằng, Phạm mạnh Cương, Nguyễn hữu Thiết, Văn Phụng ... thường hay hò hẹn, tụ họp tại nhà hàng Thanh Thế, hoặc La Pagode trên đường Tự do, để bàn chuyện ăn chơi, trai gái - nhưng không bao giờ có chuyện hạnh phúc gia đình đổ vỡ .
' Mối quan hệ giữa nhạc sĩ và các ca sĩ rất trong sáng , không linh tinh, như các nghệ sĩ bên cải lương ', ông kể lại.
Ca sĩ Khánh Ly cũng nói như vậy.
' Tuy tiếp xúc nhiều với giới ca sĩ, nhưng ông Bảo lại là người rất đứng đắn, mẫu mực và kín đáo. Ông đối xử với anh em ca sĩ rất đàng hoàng'.
Vì sinh hoạt văn nghệ tại Mỹ khác hẳn với bên nhà, nên mãi 7 năm sau , người ta mới được thưởng thức chiều ca nhạc chủ đế 50 âm nhạc Lê mộng Bảo, tổ chức tại Le Petit Trianon [vào] ngày 6 tháng 8 năm 2000.
Tuy nhiên, ước mơ thực hiện tập nhạc Những khúc tình ca viết trên lưng ngựa hoang, với phụ bản 50 chân dung ca nhạc sĩ tiền chiến cho đến nay - và hiện thời , vẫn là những lời kêu gọi [mà] không có hồi đáp.
Nếu tiền bạc, của cải, vật chất , ông không có, thì, ông al5i có bộ sưu tập hình ảnh quý giá mang theo từ Vietnam.
' Các nghệ sĩ đã đưa hình ảnh để [nhà xuất bản] Tinh hoa in vào các bản nhạc và 'anh 'giữ tới cho ngày nay. '
Ông đã cho phép [báo]Việt Mercury sử dụng một số hình ảnh cho trang báo này .*
----
* 7 tấm ảnh : 1) Như Hảo, Khánh Ly & Lê mộng Bảo - 2) Chân dung ảnh nữ ca sĩ Mai Hân khi 18 tuổi - 3) Lê mộng Bảo, Thanh Thúy, Thẩm thúy Hằng, X..., Xuân Oanh, Tony Hiếu và vợ. 4) Chiếc xe hơi đầu tiên hiệu Dauphine , do Lê mộng Bảo chủ sở hữu. 5) Lê mộng Bảo
( đeo kính) và các bạn chụp trong hình chụp vào 1973 - 6 ) tấm lớn chụp chân dung Lê mộng Bảo và tấm nhỏ sau cùng , Lê mộng Bảo mặc complet, đeo kính trắng, ghi chú : ' Lê mộng Bảo và tô mì thập cẩm tự nấu'. .
[ẢNH GIA ĐÌNH]
Trong khi chính bản thân ông không xuất bản nhạc được như mong muốn , thì, lại có nhiều tập nhạc, nhiều CD nhạc , được người khác in, phát hành, trong đó có nhạc phẩm của ông.
'... toàn là bạn, là anh em, nói sao bây giờ [ cười] tốt thôi ! ' - ông kể về những vi phạm tác quyền mà chính ông ngày xưa, khi in nhạc cho các tác giả, ông rất tôn trọng và sòng phẳng.
' ...có đĩa nhác không để cả tên tác giả nữa' ca sĩ Khánh Ly cho biết qua điện thoại, từ California .
Khánh Ly cho hay: nhiều trung tâm ' đã sử dụng vô tội vạ các nhạc phẩm trong nước và ngoài nước.'
Một trung tâm nhạc lờn ở miền nam California cũng đã dùng nhạc phẩm của Lê mộng Bảo cho 1 chương trình video ca nhạc quy mô để bán, dưới dạng bắng dĩa DVD và dĩa CD ' không một lời hỏi [ tác giả]' .
'... cho đến khi' anh' viết thư nhắc, thì, mãi sau này mới được trả 20 đô-la'- Lê mộng Bảo than , nói, rất tủi thân, nhưng vẫn cười cho cái sự đời éo le.
Vào những năm còn trông coi nhà xuất bản Tinh hoa miền Nam, từ 1948, ông đã trả 1000 đồng cho các tác giả, từ Lê hoàng Long, [đến] Phan huỳnh Điểu, Văn Cao, Hoàng Giác, Châu Kỳ, Dương thiệu Tước, Phạm Duy, Hoàng thi Thơ , Lê trọng Nguyễn, Hoàng Trọng, Văn Phụng, Đan Thọ v.v... để in 3,000 bản đầu tiên. vào thời đó, lương công chức chỉ có 600 đồng / tháng .
Sau đó, kể từ 1970, mỗi nhạc phẩm được trả từ 20 đến 50,000 đồng cho [mỗi] hợp đồng về tác quyền.
Ông nói:' Cứ 10 bài in ra, thì chỉ có 3 bài có lời, còn 7 bài coi như lỗ; nhưng, nhạc sĩ đưa bản nào, nhà Tinh hoa in hết và trả tác quyền đầy đủ, dù có thể không bán [ chạy].'
Nhạc sĩ Phạm mạnh Cương , 64 tuổi, hiện định cư ở Montréal nói tằng, ông Bảo đối với ông như bậc đàn anh và ông đã có nhiều dịp cùng với ông Bảo đặt lời nhạc và soạn hòa âm.
' Hồi đó, nhà xuất bản kiếm nhiều tiền nhứt, tới ca sĩ, rồi mới tới nhạc sĩ sáng tác,' ông nói [vậy].
và ông [Cương] cũng [thừa] nhận' Tinh Hoa trả tiền bản quyền rất cao'.
Nhạc sĩ Cương giải thích về sự tiện dụng của [bản] nhạc rời rất phổ biến tại Việtnam, mà, đứng đầu là nhà xuất bản Tinh hoa.
' ...loại nhạc rời giúp rất nhiều cho người tập hát, tập đàn - còn bên này- người ta phải mua dĩa nhạc, rồi nghe, chép nhạc lại, thành ra, đôi khi không còn đúng với bản gốc của tác giả nữa '
Ca sĩ Linh Sơn thuộc thế hệ tiền phong, hiện ở San Francisco, từng đi hát từ 1950, kể lại rằng; thủa đó ca sĩ không phải mua nhạc và cũng không phải trả tiền cho người sáng tác.
' Mỗi khi có nhạc mới là nhà xuất bản đều tặng cho ca sĩ, để ca sĩ hát , phổ biến cho tên tuổi nhạc sĩ sáng tác, vậy thôi .'
Hỏi [nữ ca sĩ] Linh Sơn rằng : vậy trong 3 giới : in, xuất bản, sáng tác và trình bày - thì giới nào kiếm nhiều tiền nhứt, thì Linh Sơn trả lời ngay ' nhà xuất bản giàu nhứt'.
Ông Bảo cũng xác nhận điều đó, tuy không nhớ rõ chính xác là bao nhiêu.' Anh' nghĩ vốn liếng tài sản cũng cả trăm cây vàng, nhưng, khi đi cải tạo về[vào] 1980, thì, không còn [lại] một đồng nào'.
Bản Phận nghèo, sáng tác năm 1971, bắt đầu linh ứng vào chính người sáng tác ra[ ca khúc] đó.
Lê mộng Bảo hay tác giả Hoa Linh Bảo bắt đầu sống kiếp nghèo.
Trong hơn 10 năm sống tại Việtnam, sau khi ra khỏi trại cải tạo, trước khi đi định cư tại Mỹ, nếu có nữa
' không có ly cà-phê mà uống' , thì bù lại, ông Bảo cũng có được giây phút rung cảm của tình yêu.
' Nghệ sĩ mà , có bao giờ ngưng yêu đâu', ông nói [thế]'.
Thật ra, từ khi ở Huế vào Sài Gòn để thiết lập chi nhánh nhà xuất bản Tinh hoa miền Nam [vào] 1952, tài sản của ông cũng chỉ có chiếc xe đạp. Từ đó, ông gây dựng nên cơ sở xuất bản nhạc, mà, nhạc sĩ Đan Thọ gọi ông là nhà truyền giáo âm nhạc tài ba nhứt Việtnam, vì, nhờ ông, mà các ca khúc sáng tác được cả nước biết đến .
' Chính nhờ sự phổ biến sâu rộng này đã làm cho nhiều ca khúc trở thành bất tử' ông Đan Thọ phát biểu trong 1 cuộc phỏng vấn trước đây.
Từ chiếc xe đạp đầu tiên, ông [ Bảo] tiến lên xe VéloSolex, rồi Mobylette, rồi xe Dauphine của hãng Renault và sau cùng xe Madza của Nhựt, loại xe [hơi] được dân Sài Gòn ưa chuộng vào những năm 1970.
Trong gần 10 năm sinh sống tại Mỹ, ông chỉ biết có xe buýt và ngay cả điện thoại đường dài cho bạn bè, ông cũng không dám sử dụng, vì tốn tiền chết .
' Em ơi , nghèo khó có gì là tội, phải không em, hãy trả lời anh đi. Đừng nhẫn tâm làm thinh ...' nhạc sĩ Lê mộng Bảo đã viết lời bản Phận nghèo như vậy.
[]
đức hà
( VIET MERCURY. SỐ 166 * THỨ SÁU, 29 THÁNG BA, 2002 )
vài hàng tiểu sử :
nhạc sĩ lê mộng bảo
( 1923 - 2007 hoa kỳ )
nơi sinh : - huế , 1925 *
- nội , gốc người phúc kiến ( trung hoa)
nghề nghiệp : - làm báo Tiếng dân với
chủ nhiệm: huỳnh thúc kháng
- cộng tác với nxb tinh hoa, giám đốc
tăng duyệt ( huế, 1948 )
vợ : - ly dị sau 30-4-1975
con : - 6
1952, 1956 : - thiết lập chi nhánh tinh hoa miền Nam ,
làm giám đốc, kể từ 1956
học : - học chữ hán với cụ phan bội châu,
- học vĩ cầm với nhạc sĩ đặng thế phong,
- nhạc lý với nhạc sĩ nguyễn văn thương
tác phẩm ; - khoảng 50 ca khúc, nổi tiếng nhất là
phận nghèo & đập vỡ cây đàn ...
- sáng tác chung vài ba ca khúc với các nhạc sĩ :
phạm mạnh cương, lam phương,
văn phụng .
định cư từ 1993 : hợp chủng quốc hoa kỳ.
qua đời : San Jose ( USA) ngày 8- 10- 2007.
--------
* 1925 : theo báo Viet Mercury
( tài liệu tiểu sử viết theo Wikipedia & báo Viet Mercury.
báo việt mercury / usa - ngày 29- 3- 2002
lê mộng bảo :
một thân phận nghèo
bài viết : đức hà
' Nếu biết gia đình tôi nghèo, hỏi rằng người ấy nghĩ làm sao; Có hờn có dỗi lúc xa nhau, có còn như lúc ban đầu, còn thắm hay tình phai màu ...'
là câu trích từ [ca khúc] Phận nghèo do Lê mộng Bảo sáng tác, [ca sĩ] Giao Linh trình bày lần đầu tiên, với ban nhạc Văn Phụng cách đây hơn 50 năm.
Vào năm 1971, khi sáng tác Phận nghèo. , Lê mộng Bảo là giám đốc [chí nhánh] tại số 51 Trần hưng Đạo, Saigon 1, một nhà kho trên đường Bùi quang Chiêu và hệ thống phân phối văn phòng phẩm suốt từ Cà mau đến Quảng trị. Ông viết về phận nghèo, nhưng ông không nghèo.
Tuy nhiên giớ đây thì ông thật sự nghèo, cộng thêm căn bệnh về hô hấp, bên cạnh một trí nhớ sa sút vàcặp mắt mù mờ.
Hiện nay, ông sống trong một căn nhà 5x5 mét tại Milpitas, với sách vở, báo chí và hình ảnh để la liệt trên bàn , trên kệ, trong tủ, trên chiếc giường xin của hội từ thiện. Bên dưới bàn là kho thực phẩm của ông, từ mí gói, sữa bột, đồ hộp của các cơ sở xã hội và tôn giáo cho, mà, ông nói rằng ' có sao ăn vậy'.
Món mì thập cẩm là món mì ăn liền, nấu với bất cứ cái gì có thể bỏ vô , từ kho thực phẩm của ông.
' ...mỗi tháng, anh được tiền trợ cấp là 732 đô-la, phải chi tiêu thật kỹ, nếu không thì hụt', ông cho biết.
Ông không bao giờ ngờ [về] những đổi thay của cuộc đời đã đưa ông đến ngày hôm nay, nhưng, tính lạc quan,[nên] ông không mất nụ cười luôn nở trên môi. Ông cười và cám ơn rối rít, khi có bạn đến thăm ông, tâm tình đôi ba chuyện ngày xưa.
' Bạn bè đến chơi lúc nào cũng được, ' anh ' vui lắm ', ông hay xưng bằng' anh' , cho dù năm nay đã 77 tuổi.
Ông chia căn nhà ,diện housing, với người vợ ly thân từ 20 năm nay và 2 người con, một, mới từ Vietnam sang, còn đang học nghề và một bị thất nghiệp tứ tháng 10 năm ngoái. Bốn người con của ông vẫn còn sống bên Việtnam *: ' Cũng may, mà còn có trợ cấp, có Medicare', ông nói.
----
* lần về Saigon, đâu đó vào 2002, LMB đến thăm tôi ( TP ) vài lần, lên sân thượng cùng chụp chung một số tấm làm kỷ niệm, và, đưa tôi nhà các con anh , trong một căn nhà trệt trong ngõ hẻm đường Tôn thất Tùng, quận 1. ( đường cũ: Bùi Chu] . Nhắc lại một vài ký ức Saigon cũ, anh lại cười và không thấy lộ vẻ buồn rầu nào , có nghĩa là, vẫn như ngày xưa vậy - kể cả lúc giận, chỉ đỏ mặt. Thủ bút viết cho tôi rất bay bướm, đẹp, nét tròn, to :
' Anh Thế Phong / rất cảm ơn anh Phong, Bảo đã nhận ảnh lưu niệm . Đa tạ '
( tp .HCM ngày 18-07- 02 ' - LÊ MỘNG BẢO)
[ Le Mong Bao 1185 Milpitas, CA 95035 USA ]
Ông cũng trích ra một số nhỏ để đóng cho một hội tương tế từ năm 1991, để
'... Ít ra khi chết cũng có tiền chôn cất, không đến nỗi bó chiếu .'
Khi đi định cư tại Hoa Kỳ theo chương trình H.O. năm 1993 , ông cũng lại sinh hoạt văn hóa, văn nghệ và âm nhạc như thủa xưa, nhưng, qua nước Mỹ quá rộng lớn, ca , nhạc sĩ ở cách xa nhau không như [ở]Vietnam trước đây, cứ ra nhà hàng Thanh Thế, gần [ đường] Tạ thu Thâu là gặp hầu hết mọi khuôn mặt văn nghệ sĩ của Sài Gòn.
Ông kể rằng, khi nhóm của ông, gồm : Lê Dinh, Anh Bằng, Phạm mạnh Cương, Nguyễn hữu Thiết, Văn Phụng ... thường hay hò hẹn, tụ họp tại nhà hàng Thanh Thế, hoặc La Pagode trên đường Tự do, để bàn chuyện ăn chơi, trai gái - nhưng không bao giờ có chuyện hạnh phúc gia đình đổ vỡ .
' Mối quan hệ giữa nhạc sĩ và các ca sĩ rất trong sáng , không linh tinh, như các nghệ sĩ bên cải lương ', ông kể lại.
Ca sĩ Khánh Ly cũng nói như vậy.
' Tuy tiếp xúc nhiều với giới ca sĩ, nhưng ông Bảo lại là người rất đứng đắn, mẫu mực và kín đáo. Ông đối xử với anh em ca sĩ rất đàng hoàng'.
Vì sinh hoạt văn nghệ tại Mỹ khác hẳn với bên nhà, nên mãi 7 năm sau , người ta mới được thưởng thức chiều ca nhạc chủ đế 50 âm nhạc Lê mộng Bảo, tổ chức tại Le Petit Trianon [vào] ngày 6 tháng 8 năm 2000.
Tuy nhiên, ước mơ thực hiện tập nhạc Những khúc tình ca viết trên lưng ngựa hoang, với phụ bản 50 chân dung ca nhạc sĩ tiền chiến cho đến nay - và hiện thời , vẫn là những lời kêu gọi [mà] không có hồi đáp.
Nếu tiền bạc, của cải, vật chất , ông không có, thì, ông al5i có bộ sưu tập hình ảnh quý giá mang theo từ Vietnam.
' Các nghệ sĩ đã đưa hình ảnh để [nhà xuất bản] Tinh hoa in vào các bản nhạc và 'anh 'giữ tới cho ngày nay. '
Ông đã cho phép [báo]Việt Mercury sử dụng một số hình ảnh cho trang báo này .*
----
* 7 tấm ảnh : 1) Như Hảo, Khánh Ly & Lê mộng Bảo - 2) Chân dung ảnh nữ ca sĩ Mai Hân khi 18 tuổi - 3) Lê mộng Bảo, Thanh Thúy, Thẩm thúy Hằng, X..., Xuân Oanh, Tony Hiếu và vợ. 4) Chiếc xe hơi đầu tiên hiệu Dauphine , do Lê mộng Bảo chủ sở hữu. 5) Lê mộng Bảo
( đeo kính) và các bạn chụp trong hình chụp vào 1973 - 6 ) tấm lớn chụp chân dung Lê mộng Bảo và tấm nhỏ sau cùng , Lê mộng Bảo mặc complet, đeo kính trắng, ghi chú : ' Lê mộng Bảo và tô mì thập cẩm tự nấu'. .
[ẢNH GIA ĐÌNH]
Trong khi chính bản thân ông không xuất bản nhạc được như mong muốn , thì, lại có nhiều tập nhạc, nhiều CD nhạc , được người khác in, phát hành, trong đó có nhạc phẩm của ông.
'... toàn là bạn, là anh em, nói sao bây giờ [ cười] tốt thôi ! ' - ông kể về những vi phạm tác quyền mà chính ông ngày xưa, khi in nhạc cho các tác giả, ông rất tôn trọng và sòng phẳng.
' ...có đĩa nhác không để cả tên tác giả nữa' ca sĩ Khánh Ly cho biết qua điện thoại, từ California .
Khánh Ly cho hay: nhiều trung tâm ' đã sử dụng vô tội vạ các nhạc phẩm trong nước và ngoài nước.'
Một trung tâm nhạc lờn ở miền nam California cũng đã dùng nhạc phẩm của Lê mộng Bảo cho 1 chương trình video ca nhạc quy mô để bán, dưới dạng bắng dĩa DVD và dĩa CD ' không một lời hỏi [ tác giả]' .
'... cho đến khi' anh' viết thư nhắc, thì, mãi sau này mới được trả 20 đô-la'- Lê mộng Bảo than , nói, rất tủi thân, nhưng vẫn cười cho cái sự đời éo le.
Vào những năm còn trông coi nhà xuất bản Tinh hoa miền Nam, từ 1948, ông đã trả 1000 đồng cho các tác giả, từ Lê hoàng Long, [đến] Phan huỳnh Điểu, Văn Cao, Hoàng Giác, Châu Kỳ, Dương thiệu Tước, Phạm Duy, Hoàng thi Thơ , Lê trọng Nguyễn, Hoàng Trọng, Văn Phụng, Đan Thọ v.v... để in 3,000 bản đầu tiên. vào thời đó, lương công chức chỉ có 600 đồng / tháng .
Sau đó, kể từ 1970, mỗi nhạc phẩm được trả từ 20 đến 50,000 đồng cho [mỗi] hợp đồng về tác quyền.
Ông nói:' Cứ 10 bài in ra, thì chỉ có 3 bài có lời, còn 7 bài coi như lỗ; nhưng, nhạc sĩ đưa bản nào, nhà Tinh hoa in hết và trả tác quyền đầy đủ, dù có thể không bán [ chạy].'
Nhạc sĩ Phạm mạnh Cương , 64 tuổi, hiện định cư ở Montréal nói tằng, ông Bảo đối với ông như bậc đàn anh và ông đã có nhiều dịp cùng với ông Bảo đặt lời nhạc và soạn hòa âm.
' Hồi đó, nhà xuất bản kiếm nhiều tiền nhứt, tới ca sĩ, rồi mới tới nhạc sĩ sáng tác,' ông nói [vậy].
và ông [Cương] cũng [thừa] nhận' Tinh Hoa trả tiền bản quyền rất cao'.
Nhạc sĩ Cương giải thích về sự tiện dụng của [bản] nhạc rời rất phổ biến tại Việtnam, mà, đứng đầu là nhà xuất bản Tinh hoa.
' ...loại nhạc rời giúp rất nhiều cho người tập hát, tập đàn - còn bên này- người ta phải mua dĩa nhạc, rồi nghe, chép nhạc lại, thành ra, đôi khi không còn đúng với bản gốc của tác giả nữa '
Ca sĩ Linh Sơn thuộc thế hệ tiền phong, hiện ở San Francisco, từng đi hát từ 1950, kể lại rằng; thủa đó ca sĩ không phải mua nhạc và cũng không phải trả tiền cho người sáng tác.
' Mỗi khi có nhạc mới là nhà xuất bản đều tặng cho ca sĩ, để ca sĩ hát , phổ biến cho tên tuổi nhạc sĩ sáng tác, vậy thôi .'
Hỏi [nữ ca sĩ] Linh Sơn rằng : vậy trong 3 giới : in, xuất bản, sáng tác và trình bày - thì giới nào kiếm nhiều tiền nhứt, thì Linh Sơn trả lời ngay ' nhà xuất bản giàu nhứt'.
Ông Bảo cũng xác nhận điều đó, tuy không nhớ rõ chính xác là bao nhiêu.' Anh' nghĩ vốn liếng tài sản cũng cả trăm cây vàng, nhưng, khi đi cải tạo về[vào] 1980, thì, không còn [lại] một đồng nào'.
Bản Phận nghèo, sáng tác năm 1971, bắt đầu linh ứng vào chính người sáng tác ra[ ca khúc] đó.
Lê mộng Bảo hay tác giả Hoa Linh Bảo bắt đầu sống kiếp nghèo.
Trong hơn 10 năm sống tại Việtnam, sau khi ra khỏi trại cải tạo, trước khi đi định cư tại Mỹ, nếu có nữa
' không có ly cà-phê mà uống' , thì bù lại, ông Bảo cũng có được giây phút rung cảm của tình yêu.
' Nghệ sĩ mà , có bao giờ ngưng yêu đâu', ông nói [thế]'.
Thật ra, từ khi ở Huế vào Sài Gòn để thiết lập chi nhánh nhà xuất bản Tinh hoa miền Nam [vào] 1952, tài sản của ông cũng chỉ có chiếc xe đạp. Từ đó, ông gây dựng nên cơ sở xuất bản nhạc, mà, nhạc sĩ Đan Thọ gọi ông là nhà truyền giáo âm nhạc tài ba nhứt Việtnam, vì, nhờ ông, mà các ca khúc sáng tác được cả nước biết đến .
' Chính nhờ sự phổ biến sâu rộng này đã làm cho nhiều ca khúc trở thành bất tử' ông Đan Thọ phát biểu trong 1 cuộc phỏng vấn trước đây.
Từ chiếc xe đạp đầu tiên, ông [ Bảo] tiến lên xe VéloSolex, rồi Mobylette, rồi xe Dauphine của hãng Renault và sau cùng xe Madza của Nhựt, loại xe [hơi] được dân Sài Gòn ưa chuộng vào những năm 1970.
Trong gần 10 năm sinh sống tại Mỹ, ông chỉ biết có xe buýt và ngay cả điện thoại đường dài cho bạn bè, ông cũng không dám sử dụng, vì tốn tiền chết .
' Em ơi , nghèo khó có gì là tội, phải không em, hãy trả lời anh đi. Đừng nhẫn tâm làm thinh ...' nhạc sĩ Lê mộng Bảo đã viết lời bản Phận nghèo như vậy.
[]
đức hà
( VIET MERCURY. SỐ 166 * THỨ SÁU, 29 THÁNG BA, 2002 )
vài hàng tiểu sử :
nhạc sĩ lê mộng bảo
( 1923 - 2007 hoa kỳ )
nơi sinh : - huế , 1925 *
- nội , gốc người phúc kiến ( trung hoa)
nghề nghiệp : - làm báo Tiếng dân với
chủ nhiệm: huỳnh thúc kháng
- cộng tác với nxb tinh hoa, giám đốc
tăng duyệt ( huế, 1948 )
vợ : - ly dị sau 30-4-1975
con : - 6
1952, 1956 : - thiết lập chi nhánh tinh hoa miền Nam ,
làm giám đốc, kể từ 1956
học : - học chữ hán với cụ phan bội châu,
- học vĩ cầm với nhạc sĩ đặng thế phong,
- nhạc lý với nhạc sĩ nguyễn văn thương
tác phẩm ; - khoảng 50 ca khúc, nổi tiếng nhất là
phận nghèo & đập vỡ cây đàn ...
- sáng tác chung vài ba ca khúc với các nhạc sĩ :
phạm mạnh cương, lam phương,
văn phụng .
định cư từ 1993 : hợp chủng quốc hoa kỳ.
qua đời : San Jose ( USA) ngày 8- 10- 2007.
--------
* 1925 : theo báo Viet Mercury
( tài liệu tiểu sử viết theo Wikipedia & báo Viet Mercury.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)