Thứ Hai, 14 tháng 4, 2014

tháng Tư Sài Gòn - một bài thơ hay của trần vấn lệ - ( los angelès)

ww. vanchuongviet.org
tháng Tư Sài Gòn - thơ trần vấn lệ


                                           THÁNG TƯ SÀI GÒN
                      thơ trần vấn lệ


Ngưởi ta nói: Sài Gòn tháng Tư / trời nóng quá
Không có một nụ cười / chiếc nón lá không che hết tóc / bỗng / bất ngờ một trận mưa rơi.

Người ta nói : Sài Gòn hỗn độn / xe và xe / 
người và người / chen nhau / đi trên đường
ai cũng muốn đi mau ( ai qua chuông Chùa mà thèm cõi yên tĩnh / gọi là ... cực lạc ?

Tháng Tư Sài Gòn không chút gió mát / một chút môi hồng có đủ thương không ? Những đứa nhỏ cầm [que kem] * mút mút, lưng ba lô sách vở [oằn vai] **

Tôi xa Sài Gòn 25 năm / nhớ nhìn về / thấy mây bềnh bồng/ nhớ làm sao bèo trôi sông rạch / nhớ làm sao ánh mắt bạn bè .

Nhớ làm sao chiếc nón em che/ nửa khuôn mặt muốn hôn mà sợ / có cái gì không tan thành khói ? Cả chiếc khăn chở khẳm mồ hôi!

Người ta nói :  Sài Gòn ... thôi thôi ! đùng nghĩ tới !!!  Những ngôi nhà cao ngất .  Những bóng nhà che trường mầm non / cây trứng cá đỏ lòm trái chín.

Tháng Tư  Sài Gòn có một nơi cô quạnh:... chùa bà Đanh ... và chùa bà Đanh  không ai qưỡn vào đây khấn nguyện ... người ta ra nhà thờ Đức Bà  để ngắm trời xanh !

Tháng Tư Sài Gòn, rồi tháng Năm, tháng Sáu, rồi thời gian đi tới, tôi ngược  về tìm chiếc xe ôm / bảo người lái đưa tôi vào một ngõ hẻm. Con hẻm vẫn còn nguyên rác rưởi tồi tàn.

Hai mươi lăm năm, tôi còn lang tháng đi kiếm một Thiên đàng không có. Những chiếc xích lô máy lâu rồi tắt thở ... chúng nằm đâu trong nghĩa-địa-người ?

Sài Gòn ơi ! Sài Gòn đẹp lắm, chẳng qua là bài hát dễ thương .

   trần vấn lệ
   
         <vanchuongviet.org>

-----

    [...] chữ của người biên tập. 

 *   nguyên văn:" những đứa trẻ "cầm cà-rem"  mút mút ...
     ngôn từ chỉ cây kem ở thời trước 30-4-75 ở Sài Gòn, nay          ít ai còn xài.

**   nguyên văn :  "... lưng ba lô sách vở "nhẹ tênh"
     báo chí, cơ quan truyền thông vẫn chưa hết lên án 
     "chiếc cặp sách  to đùng " làm oằn vai các em  học sinh          tiểu học hiện thời.
      (BT) 


lưu dân thi thoại : huy lực - bùi tiến khôi / bài viết: diên nghị + song nhị (usa)

lưu dân thi thoại - diên nghị ...
nxb cội nguồn, san jose  2003


                           thi sĩ huy lực - bùi tiến khôi
                               bài viết : diên nghị + song nhị 


Bắt đầu đi vào làng thơ từ giữa thập niên 50, từng nhận giải thưởng Văn chương Việt Nam Cộng Hòa năm 1966.  Huy Lực- Bùi tiến Khôi đã có một bề dày thời gian cầm bút . [Tác giả cho xuất bản] 9 tập thơ ấn hành tại quốc nội và 2 tập bằng anh ngữ ở Hoa Kỳ ' America my first feelings' (1981),  '20 poems and 1000 thoughts' ( 1994)...- ngoài ra, còn biên luận nhiều chuyên đề khác 'The Spirit of Vietnamese Philosophy' ( 1989), 
' Vietnamese Youth in America: Change, Challenge and Education' ( 1990). 

Chào đời tại quê hương vào 1937 ờ Bình định, trước 1975 là viên chức thuộc bộ Canh nông & Điền địa.  Ông là một trong số ít nhân vật thành công tại Hoa Kỳ, có học vị tiến sĩ,  hành nghề giáo sư cố vấn tại đại học Cộng đồng Houston từ 1976 đến nay.  Ông được thành phố Houston bầu vào chức vụ Nhà thơ công huân danh dự của thành phố. ( Houston's Poet Laureate, !984) - và hội Thi ca quốc tế tặng giải thưởng Vàng thi sĩ 1985,  viện Danh nhân Hoa Kỳ tặng Huy chương Danh dự 1900, Giải thưởng thành tựu của thế kỷ 20 ( The Twentieth Century Award for Achievment 1992 ),  và, có tên trong Almanac 1994, 1995 và Who's who in America 1994, 2002 .

Hiện ông đang hành nghề giáo dục tãi tiểu bang Texas. Thông qua phần tiểu sử, đã minh chứng khả năng, uy tín, hoạt động đa diện, và, tầm cỡ thành tựu của ông trong 1/4 thế kỷ. 

 Thơ Huy Lực trước 1975 đến nay  đậm nét thời thế, lạc quan trong quá khứ, bi quan ở hiện tại, dầu ông đã gặt hái kết quả tích cực trên các lãnh vực thi ca, văn háo, xã hội và giáo dục.

Phục vụ guồng máy công quyền miền Nam, ông đã tận tụy hết lòng đầu tư tài năng, trí tuệ ,tuổi trẻ cho đại cuộc, bảo vệ, phát huy lý tưởng tự do, nhân ái của dân tộc.  Sự sụp đổ chế độ chính trị miền Nam là một cú hích mạnh, xô ngã giai cấp trí thức đương thời, họ gượng đứng dậy được, trước tỉnh ngộ muộn màng, và, họ ý thức về thân phận nhược tiểu, giữa bao la quyền lực vô hình định đoạt, áp đặt theo sách lược quyền lợi được hoạch hóa.

  (... ) - tạm lược 2 dòng. (BT)

Quá khứ nhiệt huyết một thời, chặng đường thành tựu, ngày trước và mãi mãi đã mất, đã rã rời tàn nhẫn.  Huy Lực [vẫn] đứng trước khoảnh khắc hiện tại, bỗng trở lại, kiếm tìm, nuối tiếc,

                           Làm sao lội ngược thời gian nhỉ
                           Tìm dấu trinh nguyên giữa bụi trần

nỗi buồn vô âm, vô cảnh, bủa vây tâm hồn lưu lạc.  Đi tìm nhau, ai tìm ai, liệu còn hội ngộ?  Quê người mênh mông quá, chan hòa ánh sáng văn minh, mà, con người mất quê hương vẫn nặng trĩu tâm lý cô đơn, nên, cảm nhận
 ' người buồn cảnh có vui đâu bao giờ '.

                          Tìm nhau sưởi ấm đêm lưu lạc
                          Trong vũng tang thương  đăm đuối buồn 
                          Quê người gặp lạ tang thương quá
                          Cỏ úa rêu phong cổng lạnh lùng 
                              MIỀN NAM

Nếu bản thể công dân, vươn tới hoàn thành tiến trình hội nhập, thích ứng cuộc tồn sinh, giữa dòng đa văn hóa, thì, bản thể thế nhân quay quắt, dị ứng thường trực với xã hội, với chủng tộc khác màu da, cả cảnh vật, sắc hương tự tại của tiết xuân bát ngát vùng đất lạ,

                         Hương xuân trên đất người ta
                         Ngửi vô lạ hoắc, thở ra bồi hồi
                         Hương trầm còn lạ trong tôi
                         Òa lên nghi ngút, xông đời quạnh hiu ...

Tâm cảnh mâu thuẫn, tranh chấp, một nửa muốn thỏa hiệp hòa hoãn, nửa kia muốn rời lìa, cách ngăn.  Hiện thực năng động xô xát, nhòa xóa dần, để trước mắt con người lưu vong trở về nội tâm của chính mình, nhưng đơn độc và đơn điệu. Đứng trên bục giảng, tước cử toạ sinh viên, người bốn bể hợp dưới mái nhà chung, nỗi hoài nghi ray rứt, đậm nhạt, thoáng hiện trong cõi riêng của tác giả, 

                         Đại học vùi thân bốn bể một nhà
                         Bụi phấn kết hoa giảng đường mặt lạ
                         Bao năm rồi giọng cuốc buồn ra rả
                         ta nói với người hay cho chính thân ta

Huy Lực cùng chung tâm trạng với nhiều nhà thơ cùng cảnh ngộ, phải bước qua trên khúc quanh lịch sử.  Máy ai xa quê hương, giờ đây an ổn như mộng ước !  Chinh chiến tàn cuộc ngoài không gian, chinh chiến trong lòng người còn âm ỉ dài lâu ...

Vào ngày kỷ niệm tuổi tri thiên mệnh' của thi sĩ, cảm xúc một lần nữa gợi dậy não nùng dòng nước mắt,

                         Thơ đời xanh xao
                         trên thân ác em xinh dày vò hải tặc
                         Mạch đời buồn
                         quê hương tù ngục uất hận mờ trăng sao
                         Tuổi năm mươi
                         khóc ngất trẻ thơ, nước mắt nhạt nhòa
                                                      SINH NHẬT 50 TRÊN ĐẤT NGƯỜI

Và tận cùng giờ phút hồi tưởng tiếng vọng cuộc tình xa xưa đang gõ nhịp, nhắc nhở thời gian của một thời đã mất,

                       Thuở yêu người trôi nhanh mất hút
                       Quê hương xa kỷ niệm một thời
                       Đêm lưu lạc, đêm buồn thao thức
                       Tiếng yêu thầm vọng mãi người ơi
                          THUỞ YÊU NGƯỜI

Mỗi dòng thơ, mỗi đoạn thơ của Huy Lực- Bùi tiến Khôi ghi dấu một ân hận, một tiếc thương.  Tiếc thời gian đi không bao giờ trở lại.  Con sông thời gian cạn dần trước mắt, nhìn thật bất lực... Hình như, thời gian đang hiện hữu, âm thầm mài mòn tâm tình thi sĩ .

trich 1/4 bài thơ  Huy Lực :

                                    MƯỜI NĂM

                         Khi đứng trước c3nh nhân sầu tuyệt thảm
               em sẽ yêu cái ngông cuồng của ta 
                     HUY LỰC- BTK.

      Gió trở trời thu thả phấn hương
      Mười năm mù mịt cõi muôn phương
      Mưa bay kỷ niệm lên màu khói
      Từng giọt râm ran nỗi đoạn trường

      Tích tắc người đi nhịp bước chân

      Mười năm, ngày trước gái thanh tân
      Làm sao lội ngược thời gian nhỉ
      Tìm dấu trinh nguyên giữa bụi trần

      Tình phai nhạt tơ ánh trăng suông

      Mười năm dâu bể lệ người tuôn
      Tìm nhau sưởi ấm đêm lưu lạc
      Trong vũng tang thương đắm đuối buồn

      Thoai thoải đồi cao gió mướt nhung

      Mười măm thuở trước viếng mê cung
      Quê người gặp lại tang thương quá
      Cỏ úa rêu phai cổng  lạnh lùng .

       huy lực

                    ( Sđd - tr. 149- 152)



Thứ Năm, 10 tháng 4, 2014

nhà văn nguyễn đình toàn & 2 tác phẩm mơi được tái bản ở hoa kỳ / bài viết : T.Vấn.

www.T.Van & Bạn hữu (usa) 


                        nhà văn nguyễn đình toàn  & 2 tác phẩm
                 mới được tái bản ở hoa kỳ 
                                                  bài viết : T.Vấn.


 Đọc lại Nguyễn đình Toàn, là trở về với ngày tháng cũ, những Ngày tháng của Áo mơ phai, là đi lại những Con đường, mơ về những Đồng cỏ, mắt mút thênh thang  của tương lai đang chờ đợi. Nhưng, tương lai ấy, nay đã qua rồi.  Có còn chăng, là những hoài niệm khôn nguôi, phải thế không, hỡi em yêu dấu ? (T.Vấn)

Tôi cầm 2 quyển sách mới in  * của Nguyễn đình Toàn, với  một cảm giác lạ lẫm, mà, quen thuộc, vì đã lâu lắm - đã mấy chục năm - mới lại có được cảm giác này- khi cầm 
[ nó] trên tay.  Quen thuộc, vì, đã ở tuổi gần đất xa trời, tôi vẫn không thể quên thuở hoa niên tràn ngập, lòng ham mê sách vở, cùng với cảm giác của nùi giấy mới lâng lâng xao xuyến, cảm giác của những hàng chữ nằm im lìm, mà quyến rũ đến tê người.  Tưởng chừng như thuở hoa niên ấy mới ra khỏi đời tôi, hôm qua
----
* Người Việt Books xuất bản. (BT)

Thoắt cái, mà, đã hơn 40 năm , sao ?  Như vị thầy khả kính Nguyễn xuân Hoàng *  dẫn tôi vào thế giới văn chương, bằng những bài giảng việt văn, từ hồi học đệ ngũ [lớp 8 bây giờ] trường Pétrus Ký, những trang sách Nguyễn đình Toàn cũng là những vị ngọt đầu đời tôi nếm thử, để rồi nghiện trong suốt quãng đời còn  lại.  Những Áo mơ phai , những Con đường,  những Tro than, những Giờ ra chơi, những Ngày tháng, và, những nhân vật không tên , hoặc có tên, chúng đã là một phần tâm hồn tôi, cái phần không thể dứt bỏ, dù muốn cái phần đã mang đến cho cuộc đời tôi , cả niềm vui lẫn nỗi buồn, mà, đã có lúc, tôi ước gì mình đừng bao giờ biết đến.  Nhưng, cũng như vị ngọt của nụ hôn đầu đời, cũng như tình yêu mà không ai, không chưa một lần trải nghiệm, những trang sách của Nguyễn đình Toàn đã nhấn chìm nghỉm tôi, trong thế giới ẩm ướt của riêng ông, thế giới của những tâm hồn mơ ước được sống , như đó là một lý  lẽ duy nhất để mình tồn tại.
---
* văn sĩ, nhà báo Nguyễn xuân Hoàng [1938 ? -   ] tốt nghiệp Sư phạm , đâu đó vào khoảng 1962 ? , từng dạy ở Trung học Pétrus Ký  (Saigon). Hiện định cư ở Hoa Kỳ.  (BT)

Khi cầm trên tay 2 tập tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn đình Toàn, cùng với cảm giác bùi ngùi về cuộc đời mình, đồng thời, tôi khẳng định một điều với chính tôi, những quyển sách điện tử [ebook] của thế kỷ 21, sẽ không bao giờ thay được sách in trên giấy.  Từ lâu nay,  tôi mang theo người một vật bất khả ly thân, là cái máy đọc Nook, (...) [ bời thế] tôi cũng đã đọc được qua Web văn học - những tác phẩm in lại- trong đó, có  2 tiểu thuyết vừa [tái bản] của Nguyễn đình Toàn. Nhưng, hồi tưởng lại, dù ngày ấy ngẫu nhiên đọc, vì 'đói chữ', nhưng cảm giác lạ lẫm mà quen thuộc rất kỳ lạ này- chỉ có - khi tôi cầm 2 quyển sách còn thơm mùi giấy trên tay. (...)

 Kính chúc ông giữ gìn sức khỏe, bồi thêm cho gia tài văn học & âm nhạc đồ sộ của mình .[]

   t.vấn
   (WEB T.VAN & BANHUU - USA )

----

vài dòng tiểu sử nha văn nguyễn đình toàn :

Sinh 19.11.1930 ( trước 1975, có bản chép sinh 1936)  tại Gia lâm, ngoại vi Hà nội.
 Đã in : Chị em Hải ( 1962), Những kẻ đứng bên lề ( 1964), Con đường ( 1967),  Ngày tháng ( 1968), Phía ngoài ( 1969), Giờ ra chơi ( 1970), Đêm he ( 1970), Đêm lãng quên ( 1970), Không một ai ( 1971), Đám cháy ( 1971) ...  WEB PHAYVAN 
...   [và tập thơ Mật đắng ( nxb Huyền Trân,Saigon xb năm  ? ] 
 Nguyễn đình Toàn khởi viết văn ở Hà nội, từ thập niên 50, bạn viết thuở còn là học sinh, cùng với Dương vy Long, Nhật Tiến ( hiện ở Mỹ],  Hà My [ ở Hà nội] ... , bút hiệu đầu đới,  ký Tô hà  Vân.       



     

Thứ Tư, 9 tháng 4, 2014

chuyện tình - love story - erich segal / bản việt văn: phan lệ thanh - 29

chuyện tình- love story  - 29 - erich segal
ngày mới xuất bản, saigon 1974


                                     chuyện tình - love story - erich segal
                                    bản việt văn : phan lệ thanh

                                                                             17

"Sản xuất trẻ con không dễ gì ! "

Tôi thấy thật mỉa mai, khi những kẻ trong những năm đầu mới biết đến tình dục, chỉ lo làm sao giữ, để bạn gái khỏi mang bầu (khi tôi mới bắt đầu, đồ nghề là bao cao su thông dụng ).; nay ngược lại, bị ám ảnh về việc làm sao để cô nàng thụ thai, thay vì ngừa.

Đúng, nó có thể trở thành một ám ảnh.  Và nó có thể, khiến khía cạnh tuyệt diệu nhất của đời sống vợ chồng hòa hợp, mất và tự nhiên, bồng bột.  Nghĩa là, phải xếp đặt tư tưởng  ( 'xếp đặt' - thật là động tác nhạt nhẽo; nó gợi  hình ảnh một cái gì máy móc ) - xếp dặt tư tưởng chung quanh  cách làm tình, sao cho đúng tháng và dùng chiến thuật. ( "có lẽ, để đèn sáng mãi tốt hơn, phải không anh "). Nhưng, điều này làm mình khó chịu, ghê sợ và cuối cùng, kinh hãi.

Bởi vì, khi thấy sự hiểu biết thông dụng, và, những cố gắng bình thường, lành mạnh ( cho là như vậy) của mình không đưa đến thành công trong việc "tăng gia sản xuất " nhiều ý nghĩa  đáng sợ, sẽ bắt đầu hình thành trong óc mình.

Bác sĩ Mortimer Sheppard nói với tôi, ngay hôm đầu tiên khi chúng tôi  đến gặp ông, sau khi quyết định cần hỏi ý kiến chuyên môn.  "' Olivier, chắc anh hiểu sự " không có con được", và, sự cường tráng không liên quan gì tới nhau ''  --. ".--   "Anh ấy hiểu, bác sĩ ạ " 

Jenny trả lời hộ tôi, vì, dù không bao giờ tôi nói ra, nàng vẫn biết rằng ý nghĩ là mình không có con được -- rằng có thể  " tôi không có con được "  -- sẽ tai hại cho tinh thần tôi vô cùng.  Giọng nàng như ngầm  nói, nếu có thể tìm ra một khuyết điểm nào, nàng hy vọng khuyết điểm đó sẽ thuộc về phần nàng.  Nhưng , bác sĩ chỉ cắt nghĩa cho chúng tôi biết cái tệ hại nhất, trước khi nói tiếp , rằng rất có thể  cả 2 chúng tôi đều bình
thường, và, có thể chúng tôi sẽ có con trong một ngày gần đây.  Nhưng, dĩ nhiên chúng tôi phải trải qua một lô thí nghiệm trước đã.  Khám nghiệm tất cả các bộ phận, các máy móc.  ( tôi không muốn kể lại những chi tiết tỉ mỉ của lần khám nghiệm này ).

Cuộc khám nghiệm bắt đầu vào một ngày thứ hai, Jenny khám vào ban ngày còn tôi, thì sau giờ tan sở
( lúc đó ở sở,  tôi đang bận việc vô cùng).  Thứ sáu tuần đó, bác sĩ Sheppard gọi Jenny đến, vì lý do, cô y tá lầm lẫn một vài thứ và ông cần cho thử lại.  Khi Jenny cho tôi biết chuyện này, tôi bắt đầu nghĩ rằng, có lẽ ông ta đã khám phá ra ... điều thiếu sót gì, ở  nơi nàng chăng ?.  Hình như, nàng cũng nghĩ vậy.  Cái cớ cô y tá lầm lẫn gì đó, dễ hiểu quá mà !.

Khi bác sĩ Sheppard kêu điện thoại cho tôi ở sở, tôi đoán chắc  ngay cái giả thuyết này là đúng. Tôi có thể ghé qua phòng mạch  bác sĩ, sau khi tan sở không ?  Khi biết đây, sẽ chỉ là cuộc nói chuyện tay đôi
( " sáng nay tôi có nói chuyện với bà Barrett rồi  " ), vì tôi biết bà nghi là đúng.  Jenny không có con được.  Tuy nhiên, đừng vội tin, Olivier; hình như Seppard đã có lần nói rằng: hiện giờ đã có cách
chữa , vv...

Nhưng, tôi không sao chăm chú vào công việc được nữa, và, cũng không thể ngồi đợi tới 5 giờ chiều.  Tôi gọi lại cho Sheppard và hỏi,  liệu trưa nay tôi ghé qua có được không ? Ông ta bằng lòng.

  Tôi hỏi hết sức rành mạch, khi vừa bước vào phòng, " Bác sĩ có biết lỗi là tại ai chưa ? " --" Không thể gọi đây l à' lỗi ' được Olivier ạ." -- " Thế, bác sĩ đã biết người nào trong 2 đứa chúng tôi ' không được bình thường' chưa ?" -- " Rồi, Jenny ". 

Tôi đã sửa soạn  trước để đón nhận tin này, nhưng, lời tuyên bố trắng trợn cũa vị bác sĩ vẫn làm tôi sững sờ.  Không thấy ông nói thêm, tôi cho rằng ông muốn biết ý kiến tôi . "... không sao, chúng tôi sẽ nuôi con nuôi  vậy.  Điều quan trọng là chúng tôi vẫn yêu thương nhau, phải vậy không, bác sĩ ? ".

Lúc đó, ông mới cho tôi biết, " Olivier, bệnh tình Jenny trầm trọng hơn thế nhiều.  Jenny hiện đang đau
 nặng "  --" Ông làm ơn định nghĩa giùm tôi chữ 'đau nặng', là sao ?"  -- " Vợ anh sắp chết ".  -- " Vô lý thật ! ".   Và tôi chờ, nghe vị bác sĩ  đính chính lại, " đây chỉ là trò đùa ác ôn thôi !'."  --  "... bà ấy sắp chết rồi, thật đấy . Tôi rất buồn phải báo tin này cho anh". 

Tôi nhất quyết là ông nhầm -- hay là, cô y tá ngẩn ngơ  kia đã lẫn lộn, đưa ông bác sĩ coi bản rọi kiếng cũ vứt đi, chăng ?  Bác sĩ Sheppard tỏ vẻ không thông cảm, và cắt nghĩa, ông đã thử máu cho Jenny tới 3 lần rồi.  Không còn nghi ngờ gì nữa.  Dĩ nhiên là bác sĩ sẽ phải giới thiệu chúng tôi -- tôi và Jenny -- đến gặp một chuyên viên phân tích máu. Bác sĩ định đề nghi vậy.  Tôi khóc tay ra hiệu cho ông ta ngừng. Tôi muốn được yên lăng một phút.  Yên lặng để thấm thía một tin buồn.  Bỗng nhiên nhớ ra một điều, " Thế, bác sĩ nói với Jenny làm sao ?" -- ' Rằng, cả 2 anh chị đều bình  thường "." -- " Jenny có tin vậy không ?" -- 
 " Chắc là tin". --  " Bao giờ mới nên nói cho nàng biết?"  -- " Như tình trạng bây giờ, tôi để tùy
 anh  " --" Tùy tôi, Trời ! ờ tình trạng này, tôi thấy thở cũng còn không nổi ? ". 

Vị bác sĩ giải thích, bệnh ung thư máu mà Jenny mắc phải, chỉ có thễ chữa lấy lệ mà thôi.  Tất cả những phương thuốc  hiện nay, chỉ có thể làm cho đỡ đi, hoặc là kéo dài thời gian sống sót, nhưng không thể triệt được bệnh.  Vì thế, tùy tôi, muốn cho Jenny biết lúc nào thì tùy. Vậy thì,  bác sĩ Sheppard  có thể thư thả, trước khi bắt đầu chữa bệnh cho Jenny. Nhưng lúc đó, tôi chẳng thể nghĩ được gì,  hơn là, sao cuộc đời này khốn nạn, bẩn thỉu đến vậy được !

 " Nàng Jenny của tôi  chỉ 24 tuổi thôi ".

Hình như, tôi đã quát vào mặt bác sĩ, thì phải Ông ta nhẫn nại, gật đầu, đủ biết thừa là Jenny bao nhiêu tuổi; đồng thời, ông cũng hiểu tôi đang bị dày vò, khổ sở như thế nào ? Sau cùng, tôi thấy mình không thể ngồi ù  lì trong phòng ông ta mãi được . Tôi hỏi ông  xem tôi phải làm gì  bây giờ.  Bác sĩ Sheppard khuyên tôi , nên làm như không có gì xảy ra, càng  lâu càng tốt.

 Tôi cảm ơn bác sĩ, rồi ra về.

Như không có gì xảy ra !

Như không có gỉ xảy ra !!!
 Như không có gì xảy ra !!!.

                                                                                                     ( còn tiếp )

erich segal
PHAN LỆ THANH dịch

                ( Sđd:   tr. 164-  170 )





Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014

nhân lễ phục sinh 2014, nhớ Rp. nguyễn ngọc lan [1930 -27- 2- 2007] : đối thoại với một nữ tu cácmêlít ?

hẹn thắp lên 
nguyễn ngọc lan-
nxb trình bày- strasbourg-
Saltk lake city, 2000


          đối thoại với một nữ tu cácmêlít?
                bài viết: Rp nguyễn ngọc lan



  
tp. Hồ chí Minh, ngày 12 tháng Mười, 1981


Kính gửi ông Hoàng phủ Ngọc Tường
hội Nhà Văn
Huế


Kính Anh,

Bài "Đối thoại với một nữ tu cácmêlít?" của Anh [tác giả viết   hoa] đăng trên báo Tuổi trẻ, số đề ngày 7.10.1081, tôi đã được hân hạnh đọc.  Nếu phải có ý kiến về những bài, như từ bài
 "Những bộ mặt..." của 'cụ' Nguyễn khánh Toàn, đăng trên tạp chí Văn học(số 41-1978)- tôi gọi' cụ'- vì lẽ kính lão đắc thọ, chứ ngoài ra, từ 'cụ' không còn nặng lắm, sau một bài như thế . Tuy tôi cũng xin thú thật, là cho đến nay, cầm tới số tạp chí Văn học ấy, đến cả chục lần, nhưng, tôi chỉ mới đủ can đảm, đọc hết 4 chú thích của bài " Những bộ mặt..." thôi - cho đến bài "Đối thoại với một ...", hoặc về nhiều, khá nhiều đoạn sách, bài báo, liên quan tới tôn giáo, nhất là Công giáo, thì phải mất quá nhiều giấy, điều[này] trái với nghĩa vụ tiết kiệm giấy. Và, khó đi tới đâu, đối với một kẻ, vốn là chủ bút một tờ báo "đã hoàn thành nhiệm vụ",  từ cuối năm 1978, sớm nhất *.  Cho nên, tôi chưa hề làm công việc đó. Riêng lần này, tôi xin viết mấy dòng gửi tới Anh , chỉ vì chút nợ tình cảm - hay cảm tình -  đã lỡ mắc riêng Anh, từ cuối những năm 60.)
---
 * nguyên tổng biên tập báo 'Đứng dậy', bị rút giấy phép , tác giã tự giễu, báo đã' hoàn thành nhiệm vụ'.(BT)

Tôi xin miễn, khỏi đi vào nội dung bài báo, mà, chỉ xin đưa ra vài nhận xét bên lề, như sau đây :

- Anh đã cố tình nhắc tới 'Dialogues des carmélites' của Bernanos. Điều đó cũng tốt thôi.  Chỉ tiếc rằng Anh đừng nói gì thêm về tác phẩm của Bernanos, chứ Anh giới thiệu nó, như đã giới thiệu ở chú thích 1 ["nhân vật chính của vở kịch này , Blanche là cô gái yếu đuối, sợ hãi trước cuộc sống, đã vào dòng tu Carmen, [rồi] chạy trốn, cuối cùng đã chọn cái chết tử đạo"]- thì tôi có cảm tưởng lối giới thiệu này na- ná giống, như khi có người thiển cận nào giới thiệu bài " Đối thoại với một ..." của Anh , mà, phán rằng "hai ông và một bà nói chuyện với nhau".  Không biết tới hay không, nhắc tới một nhân vật hay một nhân tố, chủ chốt/ và chủ động thật trong 'Dialogues des carmélites', thì qủa là tội nghiệp cho Bernanos quá chừng.  Chưa kể là bảo Blanche "cuối cùng đã chọn cái chết tử đạo", thì, chẳng khác gì cho Bernanos đi đầu xuống đất đó, thưa Anh.  Một ý lực trong 'Dialogues', chính là cái chết tử đạo cuối cùng đã chọn Blanche, chứ hoàn toàn không phải ngược lại.  'Ai hiểu nổi thì hãy lo hiểu lấy'. 
(Mathieu: 19,12).

2- Anh nhại lại tên tác phẩm của Bernanos thành "Đối thoại với một nữ tu cácmêlít" thì cũng phải thôi.. Nhưng, tôi e rằng các mặt không phải, có lẽ còn nhiều hơn :

a) vấn đề của Bernanos không phải là chính ông ấy đối thoại với một, hay những nữ tu carmélites, vì,hẳn các nữ tu dòng carmélites này tha hồ đối thoại với nhau .   ( tuy bài của Anh bảo họ là 
' những cái bóng thinh lặng'.)

b) ' một nữ tu cácmêlít " - cứ cho đi là Bà Thơm có quyền phát biểu với tư cách 'một nữ tu cácmêlít' , vì, hẳn các nũ tu Dòng Kín chẳng kỳ kèo với Anh về chuyện đó làm gì- của Anh đúng là 
'mốt' thiệt.  Còn 'đối thoại' thì có 'đối thoại', nhưng, chỉ là đối thoại giữa Bà Thơm với Anh, và, với ông bạn của Anh.  Chứ 'đối thoại giữa Bà ấy với các nữ tu carmélites' khác, thì hòan toàn không có, và, khó có trên báo quá.  Vậy, nếu đối thoại thực sự và không gian lận với tác phẩm của Bernanos, và, nếu đứng về phương diện các nữ tu Dòng Kín, thì,'độc thoại của một nữ tu cácmêlít'  mới là phải đạo.

3- Cuối cùng, về chuyện 'thánh Têrêxa Cả...', người thành lập dòng Carmen' ở chú thích 2 ) , thì không biết Anh đã căn cứ vào đâu mà viết như thế.  Nếu là căn cứ vào sự hiểu biết của' một nữ tu cácmêlít', thì anh nên xin Bà ấy, từ nay, chỉ nên nói chuyện gì khác, vì, đã quên cả những chuyện sơ đẳng của Dòng Carmen rồi đó.  Còn, nếu căn cứ vào việc nghiên cứu riêng của Anh, thì, tôi xin phép giới thiệu Anh, thêm một cuốn từ điển phổ thông, vẫn tiện dụng cho những ai cần nói chuyện bên tây : Nouveau Petit Larousse chẳng hạn, ấn bản 1972, tr. 1731, cuối cột 1 ( cụ Nguyễn khánh Toàn cũng hẳn vì nghiên cứu sâu rộng, nghiêm chỉnh quá, nên  quên tra Nouveau Petit Larousse, ở mục ' Gooebel' , trước khi viết chú thích 3 ).  Đó là về Terêxa Cả.  Còn về chính vấn đề ai  đã 'thành lập dòng Carmen', thì, để an ủi Anh và Bà Thơm, tôi xin tiết lộ với Anh, một điều không bí mật gì trong lịch sử Công giáo : ngày xưa bản thân thánh Têrêxa Cả đã không biết là ai, và, ngày nay từ các nữ tu Dòng Kín ở đây cho đến giáo chủ Gioan Phaolô II , cũng vẫn chẳng tài nào biết được là ai. Thế là chúng ta chẳng phải lo ai chê cười mình, mà, phải làm cái việc râu ông nọ cắm cằm bà kia, anh Hoàng phủ Ngọc Tường ạ.

Tôi chỉ xin có vài ý kiến như thế thôi.  Nhưng cứ như vậy, Anh cũng dư hiểu, tại sao tôi đã xin miễn đi vào nội dung bài của Anh, để khỏi làm mất thì giờ của Anh - và của tôi - hơn nữa.

Dẫu sao, trước khi chấm dứt lá thư này, tôi cũng muốn thưa lại lần nữa với Anh, rằng, sở dĩ tôi đã có ý kiến với Anh, chứ không phải vì bài 'Đối thoại với một ...'- là một trường hợp phi thường gì đến nỗi phải kinh ngạc.  Ngay cả khi ở trong cuốn ' Lịch sử Việtnam' có vẻ là công trình tập thể đáng tin cậy, mà, Alexandre de Rhodes còn được gán cho một câu { được ghi lại trong ' 2 dấu nháy nháy' hẳn hiên ("), không hề có xuất xứ được viện dẫn một cách có vẻ khoa học.  Thì, còn ngạc nhiên gì, về những chuyện nói không có sách - hay có sách cũng bằng không - mách không có chứng làm chi cho vất vả.

Tôi mong rồi đây , sẽ được hân hạnh đọc, ít nữa là, từ ngòi bút của Anh, những bài không thuộc loại dễ dãi như thế nữa. Vấn đề không phải là vì những người kitô-giáo chúng tôi e ngại sự phê phán.  Bản thân tôi suốt bao nhiêu năm trời, vẫn khuyến khích sự phê phán, khuyến khích những anh chị em đồng đạo 'yếu đuối',đừng ngại phê phán, và, chính mình đã sốt sắng làm công việc phê phán. ít nữa là bao lâu trong giáo hội tôi, người ta còn có điều kiện để 'đối thoại' với tôi, phê phán với tôi, phê phán tôi nữa. Một tập thể như giáo hội Công giáo, mà có tồn tại, và, lành mạnh được, là một phần nhờ, suốt 20 thế kỷ, vẫn được phê phán thường xuyên, từ bên trong cũng như bên ngoài.  Sự phê phán rất nhiều khi, đã được viết bằng máu, nước mắt, và không kể mồ hội.  Nhưng chỉ giúp ích thực sự, là, sự phê phán nghiêm chỉnh, sâu sắc, thấu đáo.  Có như lưỡi dao giải phẫu đụng tới tận tin gan như thế, và chấp nhận bị anh em đồng đạo trách là 'thiếu bác ái' vv...- nhưng, chưa hề phải ân hận , vì đã làm như thế.Chứ sự phê phán dễ dãi, để khỏi phải nói là'rẻ tiền', thì thật vô duyên, vô vị, lại vô ích nữa. Khi đã chia xẻ cùng một đức tin, với những người từ dốt nát nhất, hay đơn mọn nhất 'trước mắt thế gian' như Blanche,nhân vật chính của Dialogues des carmélites, cho đến những người như Phaolô, Augustinus, Louis de Broglie, vv..., chúng tôi có thể tin, vì, những gì lớn hơn mọi thứ lập luận dễ dãi,vì lẽ, cũng không phải những thứ lập luận dễ dãi kia có thể làm phiền cho đức tin đó. Những luận điệu dễ dãi chỉ sinh chán ngán , hay buồn tẻ,  giả sử, như trên một sân cỏ, mà những cầu thủ mang giầy đinh đá với những cầu thủ chạy chân đất, lại còn ham đá vào chân, vào cẳng nhau , là vì, sẵn cái tội sính coi đá bóng - và - từ ít lâu nay tờ báo Tuổi trẻ đang được bán nhiều tại sân Thống nhất.

Thân chúc các Anh vạn hạnh .

nguyễn ngọc lan

( Sđd : tr. 38-41)

Lời dẫn.  Cuốn này, tuy đề nhà xuất bản Trình bày Strabourg- Salt lake City - ( thi sĩ Diễm Châu (Phạm văn Rao : 1937- 2006)chủ trương). Nhưng, tác giả không xin cấp phép, 'sách  tự in, tự bán', lại bán rất chạy  ở các  nhà thờ, dòng tu Công giáo.

Nơi trang 3, tác giả ghi tặng,
'  Mến tặng Anh Chị Thế Phong - Cùng hẹn thắp lên một ban mai lành sạch, chgo các cháu nội, ngoại của Anh Chị- Xuân 2001-
     nnl
( ký tên ). 





Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2014

[trịnh công] sơn ơi, 13 năm ... / thơ của họa sĩ đinh cường ( virginia / usa )



          TRỊNH CÔNG ƠI,13 NĂM SAU
    thơ của họa sĩ đinh cường


   Với tôi ai yêu mẹ là anh hùng 
      Sơn yêu mẹ là anh hùng thôi 
      sáng nay 1 tháng 4 bên này 
      tôi dậy sớm phone về Sàigòn 

      trưa gặp Thúy, chiều gặp Tịnh

      em gái đầu, em trai thứ 2 của Sơn
      Thúy rất giống mẹ, Tịnh bên Sơn
      lo in bao nhiêu tập nhạc thời trước

      tôi nhiều kỷ niệm với Sơn và Tịnh

      những tháng ngày nằm trên Blao-Đàlạt         
      những đêm sương giữa phố khuya 
      nhiều đêm thấy ta là thác đổ 

      Mỗi đêm thường như không ngủ

      nhớ ngày giỗ bạn, không về thăm 
      vòng hoa thay, với bao ngày cũ 
      Sơn ơi Sơn ơi 13 năm.

      Sơn ơi Sơn đã về bên Má 

      chúng ta yêu Má yêu Mẹ vô cùng ! *


             VIRGINIA, APRIL 1, 2014  

   đinh cường
     

---

- tựa bài của tác giả : 'Ngày giỗ Sơn, nhớ Mạ, nhớ Mẹ vô cùng!' (BT)
-------

*  mẹ: ngoài đời Sơn gọi MÁ, 

tôi gọi MẸ. 
Trong các ca khúc của [Trịnh công]Sơn
đều dùng MẸ,
'Mẹ tôi đi 
 Đường xa vạn dặm 
 Mẹ bỏ con đi 
 Đường xa mịt mùng.'   (TCS/ ĐƯỜNG XA VẠN DẶM )
-----
  ( Đinh Cường chú thích )
   
 (nguồn : Sangtao.org)

                           (theo T.Vấn & Bạn hữu) 



Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

gió nắng, một bài thơ thật hay / thơ trần vấn lệ ( usa )

giọt nắng -   một bài thơ  thật hay -
thơ  trần vấn lệ .


                                                    GIỌT NẮNG
             thơ trần vấn lệ

  Khi những giọt mồ hôi lăn trên trán
  người đàn ông cầm khăn tay lau cho vợ
  nói bên tai nàng
 'anh lau cho mình những giọt nắng '

  Người vợ nhoẻn  miệng cười nhìn chồng,
 'nếu những giọt mồ hôi đó chẳng thành
                                con sông'
  Anh có dám bồng em ra biển
  hai người cùng ngó lên trời, một đôi                                       im lặng
     
  Tôi muốn mở đầu một trang cổ tích
  nói về những giọt nắng dễ thương
  Nếu tôi làm được văn chương
  chắc đời trở thành thơ mộng?

  Hỡi ôi trong cuộc sống
  mấy ai thấy nắng là mưa
  Mấy ai thấy những phiếu lá dừa
  chải đầu gió phù sa xanh mướt ?

  Tại sao tôi lại tin tôi làm được
  một bài thơ thật hay
  Tôi nhớ bà Tú Xuơng từng nói
  'xưa nay em vẫn chịu Ngài!'

  'Tôi biết ông Tú Xương nhiều đêm 
                           thao thức
  bà Tú Xương vất vả nắng mưa
  các con ông bà vất vả làm bồi làm bếp
       đêm, có đêm ông Tú Xương ngồi nghe 
                              tiếng ếch'

  Tôi tin ông Tú Xương có lần cầm khăn 
                        lau vầng trán vợ
  nên ông làm được nhiều bài thơ thật hay
  Ông Tú Xương đã chết, và
  tội nghiệp những bài thơ gió bay 

  Hôm qua tôi ra nghĩa địa tiễn một người
                             về thiên thu
  trời hôm qua không nắng, không mưa mà
                                     mù mờ
  Tôi thấy trong mắt nhiều người có lệ
  những giọt năng không có ai lau.

  TRẦN VẤN LỆ
     (USA)

  ----
     
   - một số câu, người biên tập in chữ thường .(BT)



       vài hàng tiểu sử:

                   TRẦN VẤN LỆ

     - tên thật : Trần vấn Lệ
     - sinh 31 -06- 1842 tại Phan thiết, tỉnh Bình thuận.
     - trưởng thành và dạy học tại Đà lạt.
     - hiện định chu tại Los Angelès, Hoa Kỳ.


       đã xuất bản khoảng trên 1O tựa :


     - Bay vào đâu đó ở quê hương, 1992
     - Tại sao không buồn cho được, 2000
     - Từ lúc đưa em về, đã biết xa ngàn trùng, 2003
     - Trăm năm để lại , 2005 
        v.v. ...
      
      
       <www.vanchuongviet.org>