100 khuôn mặt văn nghệ sĩ : hà thượng nhân /
hồ nam & vũ uyên giang / đất sống xuất bản 2006 .
HÀ THƯỢNG NHÂN ,
NHÀ THƠ TRÀO PHÚNG BẤT ĐẮC DĨ
( 1920 - 11 th.10 / 2011- Hoa kỳ)
bài : hồ nam
Hà Thượng Nhân , họ tên trong căn cước; nhưng họ tên cha sinh mẹ đẻ để lại là
Nguyễn Sỹ Trinh * . Cái tên Hà Thượng Nhân ra đời khi chủ nhân của nó mang cấp hàm đại úy đồng hóa Quân đội Quốc gia và đảng viên đảng Cần Lao Nhân vị của lãnh tụ Ngô Đình Nhu, cùng Phạm Việt Tuyền, Lê Văn Tiến - với sự yểm trợ của bác sĩ Trần Kim Tuyến- cướp tờ báo Tự do của đám Tam Lang, Đinh Hùng, Mặc Thu, Mặc Đỗ - nên Phạm Xuân Ninh đã sáng tác ra bút hiệu Hà Thượng Nhân để phụ trách mục thơ trào phúng Đàn ngang cung - thay
Thần Đăng, bút hiệu của nhà thơ Đinh Hùng. Theo những người thân của Pham Xuân Ninh, thì ông vốn là cán bộ Việt Minh , từng cùng nhà thơ Hữu Loan đi cướp chính quyền ở Thanh Hóa năm 1945; do đó khi dinh tê về Hà Nội , ở nhờ nhà ông đốc học Phạm Xuân Độ, nên đã xin làm con nuôi ông đốc học Độ ; rồi đổi tên Phạm Xuân Ninh. Năm 1954, nhờ là em cột chèo với luật sư Lê Ngọc Chấn, nên khi luật sư Chấn làm bộ trưởng phụ tá Quốc phòng trong chính phủ thủ tướng Ngô Đình Diệm , ông này đã nhân danh Bộ trưởng phụ tá Quốc phòng ký Nghị định' đồng hóa' Phạm Xuân Ninh mang cấp bậc đại úy đồng hóa Quân đội Quốc gia. **
Về thực chất thì Hà Thượng Nhân lúc còn ở Thanh Hóa, có làm thơ ký bút hiệu
Hoàng Trinh, nhưng thơ Hoàng Trinh thuộc loại ' làng nhàng' , còn thua thơ của bà chị vợ ( bà Vân Nương , vợ của Lê Ngọc Chấn ); tuy vậy khi làm thơ trào phúng, Hà Thượng Nhân lại nổi và được các nhà thơ trào phúng trong Đàn ngang cung suy tôn chưởng môn , dù thơ trào phúng Hà Thượng Nhân còn thua xa thơ trào phúng của Tú Kếu.
Sau 1975, Hà Thượng Nhân vì mang lon' trung tá đồng hóa ' đã nghỉ hưu của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, đi học tập** cải tạo nhiều năm và sau đó Hà Thượng Nhân đã đi Mỹ theo diện H.O .
Trên đất Mỹ, với cái danh Hà Chưởng Môn đã làm thơ Đường luật kiểu thù tạc. Thơ Đường luật của Hà Thượng Nhân thuộc loại khá hơn Cao Tiêu, nên không đến nỗi nào ! Hà Thượng Nhân có chút ít chữ Hán , đã cùng bà Trùng Quang dịch lại ' Bình Ngô đại cáo' của Nguyễn Trãi - vì cho rằng bản dịch của phó bảng Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim chưa đạt. Nhưng bản dịch mới cũng không hơn gì; bởi vì trình độ chữ Hán của Hà Thượng Nhân làm sao sánh được với trình độ chữ Hán' đại khoa' , dù là ' đại khoa Phó bảng thôi. '
Dù sao thì Hà Thượng Nhân cũng thành danh, qua mặt những Hoàng Trinh, Phạm Xuân Ninh và được làm thơ trào phúng ' điếu đóm' trong ' Đàn ngang cung' của báo Tự do . Ông được suy tôn ' chưởng môn' , và một số anh em làm văn nghệ từng mặc đồ ka-ki quen miệng gọi ' niên trưởng' ; vì ông từng làm chủ nhiệm nhật báo ' Tiền tuyến' , cơ quan cũa quân đội Việt Nam Cộng Hòa mà Phan Lạc Phúc là chủ bút.
L àm thơ trào phúng không bằng Tú Mỡ, Tú Kếu; nhưng Hà Thượng Nhân cũng trên chân những Tú Be, Thợ Rèn và sống khá thọ.
Tuổi gìa bệnh tật, nhưng anh em văn nghệ người Việt ở Mỹ nào cần dến sự có mặt của ông , Hà Thượng Nhân sẵn sàng tới tiếp tay, ủng hộ tinh thần, ' nói vài lời hoa lá cành' vô thưởng vô phạt một cách hoàn toàn bất vụ lợi; miễn anh em và mọi người có mặt vui vẻ là được rồi.
Có đứa xấu miệng đơm đặt nói Hà Thượng Nhân muốn làm lãnh tụ văn nghệ hải ngoại ; nhưng thực ra Hà Thượng nhân chẳng có tham vọng gì khác hơn, sống đời ' tỵ nạn' qua ngày - và chỉ thế thôi - Hà Thượng Nhân là người xuề xòa dễ tính, luôn dĩ hòa vi quí.
[]
HỒ NAM .
-----
* đúng ra phải là Hoàng Sỹ Trinh ( BT chú thích) .
** theo cựu trung tá Phạm Hậu, nguyên Tỗng giám đốc Việt Nam Thông tấn xã ( VNCH ) - Nghị định do chính Thủ tướng Ngô Đình Diệm ký . ( Nghị định viết bằng tiếng Pháp ). ( BT chú thích ).
*** BT thay một số chữ, và không tái trích bài' Gửi ông Hà Sĩ Phu' của Hà Thượng Nhân.
( trích ` 100 KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ SĨ /
HỒ NAM +VŨ UYÊN GIANG / Đất sống xuất bản , USA, 2006. - tr 99 - 100) .
Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2012
Thứ Năm, 19 tháng 4, 2012
nhạc sĩ Phạm Duy / bài : Hồ Nam
100 khuôn mặt văn nghệ sĩ : Phạm Duy /
Hồ Nam & Vũ Uyên Giang .
p h ạ m d u y :
c h à n g n h ạ c s ĩ đ ầ y t a i t i ế n g
bài : HỒ NAM .
hồ nam : " ... Phạm Duy là con ngoài hôn thú của bà ...
nguyễn đức quỳnh : " ... nghệ sĩ con hoang như Phạm Duy ...
hà huyền chi : " ... kẻ có tài, vô hạnh ...
hồ công tâm : " nhổ ra lại liếm sạch như chùi ...
S inh ra từ một gia đình thuộc loại vọng tộc, cha là nhà văn hiện thực lớp đầu của nền văn chương quốc ngữ, nhà văn Phạm Duy Tốn - anh là nhà văn viết tiếng pháp danh tiếng: Phạm Duy Khiêm. Phạm Duy vào đời rất sớm, mười mấy tuổi đã đi giang hồ tứ bắc vào nam sống nghiệp cầm ca.
Khởi nghiệp, Phạm Duy (P.D) là người soạn nhạc phong trào, viết nhanh, lẹ phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp. Phạm Duy được tướng Nguyễn Sơn trọng thị , nên sống ở Khu IV , lãnh địa của tướng Nguyễn Sơn khá thoải mái . (.......) * - sau đó Phạm Duy theo chân Nguyễn Đức Quỳnh về thánh sáng tác Tình ca .
Giai đoạn sau 1954, Phạm Duy sáng tác nhạc có trình độ hơn; nhưng đời sống ( riêng tư) cũng nhiều tai tiếng hơn. Người ta tưởng Phạm Duy không đứng lên nổi, khi bị bắt quả tang
' sống đời sống tình dục' với bà chị dâu của vợ - lả ca sĩ Khánh Ngọc, nhưng Pham Duy đã đứng dậy được và tiếp tục' quậy'.
Tới giai đọan 1963- 1975, Phạm Duy ' quậy tới bến' , sáng tác những bản nhạc
' tình cho không biếu không' , rồi ' đạo ca' ' thiền ca ' . Lúc này thì một nhả văn thiên Cộng là Nguyễn Trọng Văn đã viết cả một cuốn sách lên án P.D, với cái tựa đề Phạm Duy đã chết .**
Dù bị dư luận lên án đủ điều, Phạm Duy vẫn cứ sống, cứ làm việc; thiên hạ nói rằng Phạm Duy là con ngoài hôn thú của bà Phạm Duy Tốn . [ vì lúc bà Tốn có thai Phạm Duy , ông Tốn bị tai biến mạch máu não, bán thân bất toại , bà Tốn ngoại tình với nhà giáo của chồng là nhà giáo Trấn Trọng Kim mang thai Phạm Duy ] loại con ngoài hôn thú bất trị, trách Phạm Duy làm gì, vì bản chất Phạm Duy là như vậy mà .
Ngày 30 tháng 4 xảy ra, Phạm Duy và vợ bỏ một số con ở Việtnam di tản sang Mỹ; rồi sau đó bảo lãnh con sang lâp nghiệp ở Mỹ, Phạm Duy sáng tác tiếp ' Con đường cái quan ' là
' Tổ khúc bầy chim xa xứ ' , rồi phổ nhạc' Truyện Kiều' , viết ' Hoàng Cầm ca' ; tuyên bố ( .... ) * rổn rang khá xôm tụ .
Năm 2005, đột nhiên Phạm Duy tuyến bố trở lại sống tại VN, và để xin phép được phổ biến một số nhạc phẩm bị cấm trước đây. (.....) *.
Phạm Duy về mua nhà ở Saigon, tổ chức đêm nhạc ' Ngày trở về ' , thiên hạ ồn ào, lên án P.D là người không có liêm sỉ, ' nhổ rồi lại liếm' - P.D bỏ ngoài tai mọi sự đám tiếu của thiên hạ, vẫn ' nhơn nhơn' sống.
Tôi còn nhớ hồi còn ' mồ ma' Nguyễn Đức Quỳnh , mỗi khi có ai ' đả động tới P.D ', ông thường nhăn mặt nói rằng :
"... với loại nghệ sĩ, nhất là nghệ sĩ con hoang như Phạm Duy, chúng ta nên rộng lượng một chút - họ đã cho ta những sáng tác hay, thì ta cũng phải rộng lượng với những chuyện' khác người' của họ một chút' xiu' - danh họa Picasso có thái độ chính trị chẳng ra làm sao, có đời sống vợ con' lăng nhăng' ; nhưng ông lại có tác phẩm hội họa để đời; ta cần phải rộng lượng với Picasso ... "
Chúng ta trọng những tác phẩm âm nhạc của Pham Duy, và đời có quyền phê phán đàm tiếu những chuyện tình ái lăng nhăng của P.D , một người tám mươi mấy tuổi sống không ' chót đời '.
Sống và sáng tác là hai phạm trù đối nghịch với nhau, và nghệ sĩ thường sống buông tuồng - nhất là một nghệ sĩ vào đới quá` sớm, bản lĩnh lại không vững vàng trong gia đình - lại bị coi là đứa con hoang , bị nhìn với con mắt' ghẻ lạnh' , như nhà thơ Hà Huyền Chi trong một bài phỏng vấn của
Đài Tiếng nói quê hương Arizona - khi được hỏi, nếu chỉ cần tóm gọn trong 5 chữ để mô tả về nhạc sĩ P.D :
" kẻ có tài vô hạnh ".
Nhà thơ Hồ Công Tâm ( hải ngoại ) đã có thơ ' khen' tài nhổ rồi lại liếm của P.D :
" . nhổ ra rồi liếm lại sạch như chùi ...."( .......) * .
Gia nhập đoàn hát lưu động vào năm 1943, đi hát từ nam chí bắc, phổ biến tân nhạc, sau đó tham gia kháng chiến, với nhiệm vụ sáng tác, phổ biến kháng- chiến- ca. Ông cũng đã khởi xướng phong trào phục hồi và phát triển dân ca trong giai đoạn này. Năm 1949, ông kết hôn với ca sĩ Thái Hằng.
Phạm Duy cùng gia đình vợ vào nam năm 1951, thành lập ban hợp ca Thăng Long, với những thành viên chính; Thái Hằng cùng các anh chị em trong nhà : Hoài Bắc ( Phạm Đình Chương), Hoài Trung
( Phạm Đinh Viễn) và Thái Thanh . Tiếp tục phục hồi và phát triển dân ca.
Đi Pháp để tìm hiểu và bổ túc nhạc lý Tây phương vào năm 1954- 55- ông vừa nhận sự chỉ dạy của nhạc sĩ Robert Lopez, vừa làm băng thính viên tại Instituit de Musicologie ở Paris, lại vừa khởi sự sáng tác trường ca.
Từ năm 1956 đến nay, ông tiếp tục sáng tác đều đặn : tâm- ca, vỉa-hè-ca, tục-ca, đạo-ca, hoan-ca,. và dĩ nhiên tình ca lần lượt ra đời.
Tháng 4 năm 1075, Phạm Duy cùng gia đình di tản sang Hoa Kỳ và định cư tại Midway City, California. Nhạc sĩ soạn thêm tị-nạn-ca, ngục-ca, Hoàng-Cầm--ca; thử nghiệm và khảo cứu nhạc đa điệu cùng vói con thứ Phạm Duy Cường và viết hồi ký .
[]
HỒ NAM
----
* Biên tập tạm lược một số chữ.
** Phạm Duy đã chết như thế nào ? / Nguyễn Trọng Văn/
Văn mới Saigon xuất bản, 1973 - Biên tập chú thích.
( trích 100 KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ SĨ /
HỒ NAM & VŨ UYÊN GIANG /
Đất sống USA 2006 - tr. 248 - 250) .
Hồ Nam & Vũ Uyên Giang .
p h ạ m d u y :
c h à n g n h ạ c s ĩ đ ầ y t a i t i ế n g
bài : HỒ NAM .
hồ nam : " ... Phạm Duy là con ngoài hôn thú của bà ...
nguyễn đức quỳnh : " ... nghệ sĩ con hoang như Phạm Duy ...
hà huyền chi : " ... kẻ có tài, vô hạnh ...
hồ công tâm : " nhổ ra lại liếm sạch như chùi ...
S inh ra từ một gia đình thuộc loại vọng tộc, cha là nhà văn hiện thực lớp đầu của nền văn chương quốc ngữ, nhà văn Phạm Duy Tốn - anh là nhà văn viết tiếng pháp danh tiếng: Phạm Duy Khiêm. Phạm Duy vào đời rất sớm, mười mấy tuổi đã đi giang hồ tứ bắc vào nam sống nghiệp cầm ca.
Khởi nghiệp, Phạm Duy (P.D) là người soạn nhạc phong trào, viết nhanh, lẹ phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp. Phạm Duy được tướng Nguyễn Sơn trọng thị , nên sống ở Khu IV , lãnh địa của tướng Nguyễn Sơn khá thoải mái . (.......) * - sau đó Phạm Duy theo chân Nguyễn Đức Quỳnh về thánh sáng tác Tình ca .
Giai đoạn sau 1954, Phạm Duy sáng tác nhạc có trình độ hơn; nhưng đời sống ( riêng tư) cũng nhiều tai tiếng hơn. Người ta tưởng Phạm Duy không đứng lên nổi, khi bị bắt quả tang
' sống đời sống tình dục' với bà chị dâu của vợ - lả ca sĩ Khánh Ngọc, nhưng Pham Duy đã đứng dậy được và tiếp tục' quậy'.
Tới giai đọan 1963- 1975, Phạm Duy ' quậy tới bến' , sáng tác những bản nhạc
' tình cho không biếu không' , rồi ' đạo ca' ' thiền ca ' . Lúc này thì một nhả văn thiên Cộng là Nguyễn Trọng Văn đã viết cả một cuốn sách lên án P.D, với cái tựa đề Phạm Duy đã chết .**
Dù bị dư luận lên án đủ điều, Phạm Duy vẫn cứ sống, cứ làm việc; thiên hạ nói rằng Phạm Duy là con ngoài hôn thú của bà Phạm Duy Tốn . [ vì lúc bà Tốn có thai Phạm Duy , ông Tốn bị tai biến mạch máu não, bán thân bất toại , bà Tốn ngoại tình với nhà giáo của chồng là nhà giáo Trấn Trọng Kim mang thai Phạm Duy ] loại con ngoài hôn thú bất trị, trách Phạm Duy làm gì, vì bản chất Phạm Duy là như vậy mà .
Ngày 30 tháng 4 xảy ra, Phạm Duy và vợ bỏ một số con ở Việtnam di tản sang Mỹ; rồi sau đó bảo lãnh con sang lâp nghiệp ở Mỹ, Phạm Duy sáng tác tiếp ' Con đường cái quan ' là
' Tổ khúc bầy chim xa xứ ' , rồi phổ nhạc' Truyện Kiều' , viết ' Hoàng Cầm ca' ; tuyên bố ( .... ) * rổn rang khá xôm tụ .
Năm 2005, đột nhiên Phạm Duy tuyến bố trở lại sống tại VN, và để xin phép được phổ biến một số nhạc phẩm bị cấm trước đây. (.....) *.
Phạm Duy về mua nhà ở Saigon, tổ chức đêm nhạc ' Ngày trở về ' , thiên hạ ồn ào, lên án P.D là người không có liêm sỉ, ' nhổ rồi lại liếm' - P.D bỏ ngoài tai mọi sự đám tiếu của thiên hạ, vẫn ' nhơn nhơn' sống.
Tôi còn nhớ hồi còn ' mồ ma' Nguyễn Đức Quỳnh , mỗi khi có ai ' đả động tới P.D ', ông thường nhăn mặt nói rằng :
"... với loại nghệ sĩ, nhất là nghệ sĩ con hoang như Phạm Duy, chúng ta nên rộng lượng một chút - họ đã cho ta những sáng tác hay, thì ta cũng phải rộng lượng với những chuyện' khác người' của họ một chút' xiu' - danh họa Picasso có thái độ chính trị chẳng ra làm sao, có đời sống vợ con' lăng nhăng' ; nhưng ông lại có tác phẩm hội họa để đời; ta cần phải rộng lượng với Picasso ... "
Chúng ta trọng những tác phẩm âm nhạc của Pham Duy, và đời có quyền phê phán đàm tiếu những chuyện tình ái lăng nhăng của P.D , một người tám mươi mấy tuổi sống không ' chót đời '.
Sống và sáng tác là hai phạm trù đối nghịch với nhau, và nghệ sĩ thường sống buông tuồng - nhất là một nghệ sĩ vào đới quá` sớm, bản lĩnh lại không vững vàng trong gia đình - lại bị coi là đứa con hoang , bị nhìn với con mắt' ghẻ lạnh' , như nhà thơ Hà Huyền Chi trong một bài phỏng vấn của
Đài Tiếng nói quê hương Arizona - khi được hỏi, nếu chỉ cần tóm gọn trong 5 chữ để mô tả về nhạc sĩ P.D :
" kẻ có tài vô hạnh ".
Nhà thơ Hồ Công Tâm ( hải ngoại ) đã có thơ ' khen' tài nhổ rồi lại liếm của P.D :
" . nhổ ra rồi liếm lại sạch như chùi ...."( .......) * .
đôi dòng tiểu sử :
Tên thật là Phạm Duy Cẩn. Sinh ngày 05 tháng 10 năm 1921 tại phố Hàng Cót, Hà Nội. Ông được sinh ra trong một gia đình ' làm văn học và trọng văn học' ( theo Tạ Tỵ ) ; là con thứ 10 của nhà văn trào phúng xã hội Phạm Duy Tốn. Các anh của ông : Phạm Duy Khiêm, Phạm Duy Nhượng đều có viết văn, soạn nhạc.
Thuở nhỏ Phạm Duy từng theo học các trường trung học Thăng Long, Cao đẳng mỹ thuật, Kỹ nghệ thực hành. Tự học nhạc vào năm 1940, ca khúc đầu tay' Cô hái mơ' năm 1942.Gia nhập đoàn hát lưu động vào năm 1943, đi hát từ nam chí bắc, phổ biến tân nhạc, sau đó tham gia kháng chiến, với nhiệm vụ sáng tác, phổ biến kháng- chiến- ca. Ông cũng đã khởi xướng phong trào phục hồi và phát triển dân ca trong giai đoạn này. Năm 1949, ông kết hôn với ca sĩ Thái Hằng.
Phạm Duy cùng gia đình vợ vào nam năm 1951, thành lập ban hợp ca Thăng Long, với những thành viên chính; Thái Hằng cùng các anh chị em trong nhà : Hoài Bắc ( Phạm Đình Chương), Hoài Trung
( Phạm Đinh Viễn) và Thái Thanh . Tiếp tục phục hồi và phát triển dân ca.
Đi Pháp để tìm hiểu và bổ túc nhạc lý Tây phương vào năm 1954- 55- ông vừa nhận sự chỉ dạy của nhạc sĩ Robert Lopez, vừa làm băng thính viên tại Instituit de Musicologie ở Paris, lại vừa khởi sự sáng tác trường ca.
Từ năm 1956 đến nay, ông tiếp tục sáng tác đều đặn : tâm- ca, vỉa-hè-ca, tục-ca, đạo-ca, hoan-ca,. và dĩ nhiên tình ca lần lượt ra đời.
Tháng 4 năm 1075, Phạm Duy cùng gia đình di tản sang Hoa Kỳ và định cư tại Midway City, California. Nhạc sĩ soạn thêm tị-nạn-ca, ngục-ca, Hoàng-Cầm--ca; thử nghiệm và khảo cứu nhạc đa điệu cùng vói con thứ Phạm Duy Cường và viết hồi ký .
[]
HỒ NAM
----
* Biên tập tạm lược một số chữ.
** Phạm Duy đã chết như thế nào ? / Nguyễn Trọng Văn/
Văn mới Saigon xuất bản, 1973 - Biên tập chú thích.
( trích 100 KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ SĨ /
HỒ NAM & VŨ UYÊN GIANG /
Đất sống USA 2006 - tr. 248 - 250) .
Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012
phạm công thiện : bài Hồ Nam
100 khuôn mặt văn nghệ sĩ :
Phạm Công Thiện( 1941- 2011, Texas ) -
Hồ Nam & Vũ Uyên Giang / Đất sống USA xb, 2006.
PHẠM CÔNG THIỆN , GIÁO SƯ ĐẠI HỌC KHÔNG BẰNG TÚ TÀI
DẠY THIÊN HẠ LÀM LUẬN ÁN TIẾN SĨ *
bài : Hồ Nam
C uối thập niên 50 thế kỷ XX, nhà thơ Nguyễn Vỹ, tác giả 2 câu thơ :
" Thời thế bây giờ nghĩ cũng khó
Nha văn An nam khổ hơn chó "
khoe với tôi, ông vừa khám phá ra một ' thần đồng' sinh ra ở Mỹ Tho mới 15 tuổi đấu mà đã đọc thông, viết thạo 5 ngoại ngữ : Anh, Pháp, Nhật, Hoa, Tây Ban Nha - và còn biết những tử ngữ như Sanccrit ( tiếng Bắc Phạn ) và La tinh- và người đó có tên Phạm Công Thiện.
G iữa thập niên 60 của thế kỷ XX, Phạm Công Thiện trở thành tỳ kheo Thích Ngươn Tánh , khoa trưởng 2 phân khoa Phật học và Văn khoa của viện Đại học Vạn Hạnh, và viết những bài nghiên cứu triết học, nghiên cứu văn học trên tờ nguyệt san ' Tư tưởng' , làm các bậc khoa bảng lúc bấy giờ phải cúi đầu' tâm phục khẩu phục' - làm những giáo sư đại học, cỡ Nguyễn văn Trung không chê vào đâu được ! Tôi hỏi ra, mới biết Phạm Công Thiện chưa hế bao giờ đi thi tú tài, nên cũng chưa bao giờ bước chân vào một trường đại học nào trong đời .
T hế rồi đầu thập niên 70 ( thế kỷ XX) , Phạm Công Thiện khóac áo cà sa cùng thượng tọa Thích Minh Châu, viện trưởng Viện trưởng viện dại học Vạn Hạnh đi dự một hội nghị quốc tế về đại học ở nước ngoài. Dịp này, Thiện đã trút bỏ áo cà sa, lấy một cô vợ người Pháp, rồi trở thành giáo sư đại học ở Pháp và xuất bản thơ.
T hế là thiên hạ thi nhau công kích thơ Phạm Công Thiện, nhưng thơ PCThiện càng bị đả kích, bêu riếu bao nhiêu thì lại càng có nhiều người mê và ngưỡng mộ thơ PCThiện bấy nhiêu - vì thơ Thiện có ngôn ngữ riêng : thế giới thơ PCThiện là một thế giới đầy bí ẩn, đầy ẩn dụ đã huyễn hoặc người đọc.
Phạm Công Thiện dạy đại học ở Pháp có nhiều sinh viên cao học triết Đông phương đã xin làm môn sinh của Thiện, nhờ Thiện hướng dẫn, bảo vệ luận án tiến sĩ triết học Ấn độ cổ đại, và ông đã hướng dẫn thành công .
Tới nay, nhà thơ PCThiện đã hướng dẫn nhiều thế hệ sinh viên cao học ở Pháp - rồi đi Mỹ, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ triết học Đông, Tây - nhưng bản thân ông thì vẫn chưa hề bao giờ có bằng tú tài.
Phạm Công Thiện vẫn làm thơ , vẫn viết những cuốn sách ' đại luận' về triết học Đông, Tây - va đi vào những vấn đề gai góc nhất của triết học hiện đại. PCThiện đã qua mặt những nhà triết họ Hiện tượng luận . PCThiện đi vào triết học Đức, như đi vào thế giới không người - khiến những bậc thầy dạy triết học Đức phải ngạc nhiên, cúi đầu kính phục.
N hiều người bảo Phạm Công Thiện ' điên chữ' , nhiều người phê phán thơ PCThiện là thơ ' khùng' - nhưng người thán phục PCThiện thì lại ngày một đông, không khác gì hồi thế kỷ XIX, người ta tôn sùng Kỳ Đồng, một người VN được thiên tài hội họa nhân loại
Paul Gauguin tôn vinh là ' thi sĩ bất hủ '.
Tôi gọi Phạm CôngThiện là hiện tượng thơ, hiện tượng nghiên cứu triết học, một văn tài hiếm có - và một người một khi đã trở thành hiện tượng, thì hiện tượng đời sống cũng hiện tượng, có nhiều điều đáng' bị' phê phán, như khoác cá sa ăn mày cửa Phật , rồi bỏ chùa , hoàn tục, lấy vợ, rồi bỏ vợ - sống không giống ai, điên điên, khùng khùng , ăn nói lung tung như người mê sảng - tuy nhiên PCThiện có những tác phẩm triết học, những bài thơ đáng giá cho đời - nên mọi người có thể rộng lượng một chút đối với kẻ có đóng góp một chút gì đó cho đời, dù kẻ đó có sống không giống ai; và sống ' ngược đời', thích ngồi xổm lên dư luận của xã hội.
Phạm Công Thiện sinh ngày 1-8-1941 tại Mỹ Tho . Xuất ngoại từ 1970. Hiện định cư tại hoa kỳ.
Tác phẩm đã xuất bản :
TIỂU LUẬN VỀ BỒ ĐỀ ĐẠT MA, TỔ SƯ THIỀN TÔNG ( 1964)
Ý THỨC MỚI TRONG VĂN NGHỆ TRIẾT HỌC ( 1965)
NGÀY SINH CỦA RẮN ( thơ, 1967)
TRỜI THÁNG TƯ ( 1966 )
IM LẶNG HỐ THẲM ( 1967)
HỐ THẲM CỦA TƯ TƯỞNG ( 1967)
MẶT TRỜI KHÔNG BAO GIỜ CÓ THỰC ( 1967)
BAY ĐI NHỮNG CƠN MƯA PHÙN ( 1970)
ĐI CHO HẾT MỘT ĐÊM HOANG VU TRÊN MẶT ĐẤT ( 1988)
SỰ CHUYỂN ĐỘNG TOÀN DIỆN CỦA TÂM THỨC TRONG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO ( 1994)
TRIẾT LÝ VIỆTNAM VỀ SỰ VƯỢT BIÊN ( 1995)
LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRỞ THÀNH MỘT BỒ TÁT ?
SÁNG RỰC KHẮP BỐN PHƯƠNG TRỜI ( 1998)
TINH TÚY TRONG SÁNG CỦA ĐẠO LÝ PHẬT GIÁO ( 1998)
TRÊN TẤT CẢ ĐỈNH CAO LÀ IM LẶNG
MỘT ĐÊM SIÊU HÌNH VỚI HÀN MẶC TỬ
KHAI NGÔN CHO MỘT CÂU HỎI DỄ HIỂU : TRIẾT HỌC LÀ GÌ ?
ĐỐI MẶT VỚI 1000 NĂM CÔ ĐƠN CỦA NIETZSCHE .
v.v...
[]
HỒ NAM .
trích thơ PHẠM CÔNG THIỆN .
t h i ê n s ư ơ n g
Mộng ở đầu cây mơ lá cây
Dòng sông ngừng chảy đợi mây bay
Kêu nhau nhỏ nhẹ sầu năm ấy
Chim hải hồ bay trắng tháng ngày
Tỉnh nhỏ quên rồi em ở đâu ?
Mây bỏ trời đi tìm sông sâu
Em về lồng lộng như sương trắng
Hồ chế trôi về Thương hải Châu .
thơ PHẠM CÔNGTHIỆN.
( trích 100 KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ SĨ /
HỒ NAM & VŨ UYÊN GIANG, Đát sống xb, USA 2006 - tr. 245-247 ) .
Phạm Công Thiện( 1941- 2011, Texas ) -
Hồ Nam & Vũ Uyên Giang / Đất sống USA xb, 2006.
PHẠM CÔNG THIỆN , GIÁO SƯ ĐẠI HỌC KHÔNG BẰNG TÚ TÀI
DẠY THIÊN HẠ LÀM LUẬN ÁN TIẾN SĨ *
bài : Hồ Nam
C uối thập niên 50 thế kỷ XX, nhà thơ Nguyễn Vỹ, tác giả 2 câu thơ :
" Thời thế bây giờ nghĩ cũng khó
Nha văn An nam khổ hơn chó "
khoe với tôi, ông vừa khám phá ra một ' thần đồng' sinh ra ở Mỹ Tho mới 15 tuổi đấu mà đã đọc thông, viết thạo 5 ngoại ngữ : Anh, Pháp, Nhật, Hoa, Tây Ban Nha - và còn biết những tử ngữ như Sanccrit ( tiếng Bắc Phạn ) và La tinh- và người đó có tên Phạm Công Thiện.
G iữa thập niên 60 của thế kỷ XX, Phạm Công Thiện trở thành tỳ kheo Thích Ngươn Tánh , khoa trưởng 2 phân khoa Phật học và Văn khoa của viện Đại học Vạn Hạnh, và viết những bài nghiên cứu triết học, nghiên cứu văn học trên tờ nguyệt san ' Tư tưởng' , làm các bậc khoa bảng lúc bấy giờ phải cúi đầu' tâm phục khẩu phục' - làm những giáo sư đại học, cỡ Nguyễn văn Trung không chê vào đâu được ! Tôi hỏi ra, mới biết Phạm Công Thiện chưa hế bao giờ đi thi tú tài, nên cũng chưa bao giờ bước chân vào một trường đại học nào trong đời .
T hế rồi đầu thập niên 70 ( thế kỷ XX) , Phạm Công Thiện khóac áo cà sa cùng thượng tọa Thích Minh Châu, viện trưởng Viện trưởng viện dại học Vạn Hạnh đi dự một hội nghị quốc tế về đại học ở nước ngoài. Dịp này, Thiện đã trút bỏ áo cà sa, lấy một cô vợ người Pháp, rồi trở thành giáo sư đại học ở Pháp và xuất bản thơ.
T hế là thiên hạ thi nhau công kích thơ Phạm Công Thiện, nhưng thơ PCThiện càng bị đả kích, bêu riếu bao nhiêu thì lại càng có nhiều người mê và ngưỡng mộ thơ PCThiện bấy nhiêu - vì thơ Thiện có ngôn ngữ riêng : thế giới thơ PCThiện là một thế giới đầy bí ẩn, đầy ẩn dụ đã huyễn hoặc người đọc.
Phạm Công Thiện dạy đại học ở Pháp có nhiều sinh viên cao học triết Đông phương đã xin làm môn sinh của Thiện, nhờ Thiện hướng dẫn, bảo vệ luận án tiến sĩ triết học Ấn độ cổ đại, và ông đã hướng dẫn thành công .
Tới nay, nhà thơ PCThiện đã hướng dẫn nhiều thế hệ sinh viên cao học ở Pháp - rồi đi Mỹ, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ triết học Đông, Tây - nhưng bản thân ông thì vẫn chưa hề bao giờ có bằng tú tài.
Phạm Công Thiện vẫn làm thơ , vẫn viết những cuốn sách ' đại luận' về triết học Đông, Tây - va đi vào những vấn đề gai góc nhất của triết học hiện đại. PCThiện đã qua mặt những nhà triết họ Hiện tượng luận . PCThiện đi vào triết học Đức, như đi vào thế giới không người - khiến những bậc thầy dạy triết học Đức phải ngạc nhiên, cúi đầu kính phục.
N hiều người bảo Phạm Công Thiện ' điên chữ' , nhiều người phê phán thơ PCThiện là thơ ' khùng' - nhưng người thán phục PCThiện thì lại ngày một đông, không khác gì hồi thế kỷ XIX, người ta tôn sùng Kỳ Đồng, một người VN được thiên tài hội họa nhân loại
Paul Gauguin tôn vinh là ' thi sĩ bất hủ '.
Tôi gọi Phạm CôngThiện là hiện tượng thơ, hiện tượng nghiên cứu triết học, một văn tài hiếm có - và một người một khi đã trở thành hiện tượng, thì hiện tượng đời sống cũng hiện tượng, có nhiều điều đáng' bị' phê phán, như khoác cá sa ăn mày cửa Phật , rồi bỏ chùa , hoàn tục, lấy vợ, rồi bỏ vợ - sống không giống ai, điên điên, khùng khùng , ăn nói lung tung như người mê sảng - tuy nhiên PCThiện có những tác phẩm triết học, những bài thơ đáng giá cho đời - nên mọi người có thể rộng lượng một chút đối với kẻ có đóng góp một chút gì đó cho đời, dù kẻ đó có sống không giống ai; và sống ' ngược đời', thích ngồi xổm lên dư luận của xã hội.
Phạm Công Thiện sinh ngày 1-8-1941 tại Mỹ Tho . Xuất ngoại từ 1970. Hiện định cư tại hoa kỳ.
Tác phẩm đã xuất bản :
TIỂU LUẬN VỀ BỒ ĐỀ ĐẠT MA, TỔ SƯ THIỀN TÔNG ( 1964)
Ý THỨC MỚI TRONG VĂN NGHỆ TRIẾT HỌC ( 1965)
NGÀY SINH CỦA RẮN ( thơ, 1967)
TRỜI THÁNG TƯ ( 1966 )
IM LẶNG HỐ THẲM ( 1967)
HỐ THẲM CỦA TƯ TƯỞNG ( 1967)
MẶT TRỜI KHÔNG BAO GIỜ CÓ THỰC ( 1967)
BAY ĐI NHỮNG CƠN MƯA PHÙN ( 1970)
ĐI CHO HẾT MỘT ĐÊM HOANG VU TRÊN MẶT ĐẤT ( 1988)
SỰ CHUYỂN ĐỘNG TOÀN DIỆN CỦA TÂM THỨC TRONG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO ( 1994)
TRIẾT LÝ VIỆTNAM VỀ SỰ VƯỢT BIÊN ( 1995)
LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRỞ THÀNH MỘT BỒ TÁT ?
SÁNG RỰC KHẮP BỐN PHƯƠNG TRỜI ( 1998)
TINH TÚY TRONG SÁNG CỦA ĐẠO LÝ PHẬT GIÁO ( 1998)
TRÊN TẤT CẢ ĐỈNH CAO LÀ IM LẶNG
MỘT ĐÊM SIÊU HÌNH VỚI HÀN MẶC TỬ
KHAI NGÔN CHO MỘT CÂU HỎI DỄ HIỂU : TRIẾT HỌC LÀ GÌ ?
ĐỐI MẶT VỚI 1000 NĂM CÔ ĐƠN CỦA NIETZSCHE .
v.v...
[]
HỒ NAM .
trích thơ PHẠM CÔNG THIỆN .
t h i ê n s ư ơ n g
Mộng ở đầu cây mơ lá cây
Dòng sông ngừng chảy đợi mây bay
Kêu nhau nhỏ nhẹ sầu năm ấy
Chim hải hồ bay trắng tháng ngày
Tỉnh nhỏ quên rồi em ở đâu ?
Mây bỏ trời đi tìm sông sâu
Em về lồng lộng như sương trắng
Hồ chế trôi về Thương hải Châu .
thơ PHẠM CÔNGTHIỆN.
( trích 100 KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ SĨ /
HỒ NAM & VŨ UYÊN GIANG, Đát sống xb, USA 2006 - tr. 245-247 ) .
lời MỞ cho tập thơ tình Thanh Chương / bài: Thế Phong..
lời Mở
cho tập thơ tình của thanh chương
thếphong viết
T rước khi anh xuất cảnh, tôi đã nhận được thư anh - kèm bài viết của anh Khải Triều nhận xét về bản thảo tập thơ TÌNH BUỒN NHỚ MÃI . Hình như việc đổi tựa này đã thay đổi nhiều lần, dầu thay tựa, đổi tên, nội dung thi tập vẫn là chuyện- tình- thơ được dẫn giải qua cảm-xúc-thơ riêng Thanh Chương .
Một chút nghịch ngợm, tôi bèn thử đổi tựa BUỒN TÌNH MÃI NHỚ ...- bởi lẽ tình buồn là cuộc tình đã ra đi nên còn nhớ - chuyện tình này không ghi trong thiệp hồng năm nào, ngày 13 tháng 12 năm 19 ...( tôi không dự, cáo lỗi, đám cưới tổ chức tại nhà hàng Quốc tế, trung tâm Saigon, đường Lê Lợi . )
Lý do không thể tham dự , lần tôi xin phép nghỉ thường niên , thưa với một Sếp Không quân:
".... đi lính là nghĩa vụ quân dịch, mong Sếp cho phép nghỉ hàng năm vào lễ Giáng Sinh , năm nay tôi dự tính đi Dalat ..."
bây giờ tôi nói nhỏ đế anh nghe thôi nhé, liệu có nàng dâu - hình ảnh bà xã vượng phu, ích tử - trong thi tập này không ? - Anh đừng giận khi tôi nói điều này. Tôi nhận thư anh sau ngày 12 tháng 12,... giã từ quê hương vào ngày 13 , rơi đúng vào kỷ niệm ngày cưới của anh chị từ 30 năm trước .
Thơ anh vốn giàu âm điệu , ngay từ khi anh và Hồ Phong in chung trong tập thơ
CỎ CHÁY * ; nhiều bài thơ của anh trong tập đã có khóa SOL, ẩn điệu nhạc lắng chìm. Nhiều nhạc sĩ phổ thơ anh mà tôi biết - như nhạc sĩ Nguyễn Hiền, Dzũng Chinh .... - nhất là Dzũng Chinh; tôi chỉ được nghe thơ anh qua ông này phổ nhạc, anh hát . Tôi chưa thể đánh giá được sự thành công từ nhạc lấy hứng qua thơ phổ - như Mộng dưới hoa, thơ Đinh Hùng được nốt nhạc tài hoa của Phạm Đình Chương tạo thăng hoa gấp bội ; hoặc nhiều người từng phổ Màu tím hoa sim- thơ Hữu Loan - nhưng hay nhất vẫn chi một nhạc sĩ Dzũng Chinh phổ là hay nhất ! ( xin lỗi, theo ý riêng tôi thôi nhé ).
Nhận xét về tập thơ anh, qua Khải Triều; tôi nói với anh ấy : vào một buổi chiều năm 1998 , khi 2 chúng tôi đi ăn phở gà, uống cà phê - và ở nơi này đã có lần 3 chúng ta từng tề tựu bên nhau . Giờ này chỉ còn 2 , tôi nói :" bài Khải Triều viết, đủ giới thiệu thơ anh , chẳng cần bài nào của ai khác ! ".
Nhưng mới đây, qua thư anh mới gửi , anh Hoàng Vũ Đông Sơn chuyển lại - sau 4 ngày tới Sim Valley- anh nhắc tôi viết tựa xong thì gửi ngay cho . Nên tôi của mấy hôm nay , hết lên Biên Hòa, lại đến quán cà phê Thằng Bờm ( tôi và anh cũng từng chở nhau trên xe gắn máy, đi và về hơn 60 cây số, chỉ để nhấm nháp ly cà phê đen tuyệt chiêu ) tìm cảm hứng viết những dòng chữ thâm tình này. Anh dùng được thì dùng - bằng không - hãy coi nó chỉ thư riêng gửi cho Thanh Chương, tác giả một số bài thơ mà tôi thích. Thế thôi !
Nhiều bạn văn của anh ở Saigon và Biên Hòa chưng hửng - khi nghe tin anh đã ra đi , theo diện đòan tụ ở Huê Kỳ :
Thư Linh, Thanh Thương Hoàng, Nguyễn hải Phương , Phổ Đức, Lữ Quốc Văn, Khải Triều, Hoàng Xuân Việt, Vương Đức Lệ, Hoàng Hương Trang và Bù Quang Huy ở Biên Hòa , nhà ở trên đường Võ Thị Sáu, gần quán Thằng Bờm . Huy than thở:
"... sao anh ấy không lên đây gặp nhau, uống một ly cà phê đen ở quán Thằng Bờm hoặc thưởng thức ly cam vắt bên bờ Đồng Nai gió mát, rồi anh em giã từ nhau, có phải vui không ? "
Tôi bèn hứa bá vơ :
" Rồi qui vị sẽ nhận được tập thơ tình Thanh Chương ở Huê Kỷ gửi về tặng mỗi chúng ta - giấy thơm mùi giấy, mực thơm mùi mực " * * .
[]
THẾ PHONG .
( nguồn : web: Newvietart. com ( France )
------
* CỎ CHÁY , thơ Hồ Phong+ Thanh Chương,
Đại Nam văn hiến xuất bản , Saigon 1972.
** TÌNH BUỒN NHỚ MÃI - Ấn hành: Phan Bá Thụy Dương / Nxb Little Saigon, Cali. USA 2009,
184 trang, phác họa chân dung : họa sĩ Phan Diên .
trích nguyên tác thơ thanh chương.
sàigòn tháng 7
tháng bẩy Sài Gòn trời vẫn mưa
phố buồn đêm xưống sao trăng mờ
đèn khuya rũ bóng sầu hoen mắt
đường về xóm nhỏ thêm bơ vơ
Sài Gòn tháng bảy nhiều mây đen
mưa chiều sướt mướt phố lên đèn
ai về ngõ lội đời hoang vắng
từng bước chân buồn khua bóng đêm .
( trang 43)
nhũng chiều mưa
riêng Phụng
tháng mười em sang sông
thuyền anh lại ngược dòng
con sông dài không bến
biển hồn trong hoài momg
tháng mười mưa nhiều quá
em có về thăm anh
bên này sông gió lạnh
bên kia bờ nắng hanh
bây giờ là tháng mấy
em còn nhớ không em
những tháng mười kỷ niệm
những chiều mua trong tim
anh sẽ chờ mãi mãi
trên dòng nước xuôi này
tình yêu là định mệnh
những chiều mưa bóng mây .
( trang 49)
trầm luân
riêng tặng Thế Phong.
đoạn trường nhân thế về đâu
hỏi người lầm bước qua cầu trầm luân
lỡ vào mê lộ đường trần
dấu xưa chìm khuất mùa xuân chẳng còn
trầm tư trong nỗi cô đơn
suối nguồn trăn trở sóng hờn biển xa
rừng thưa trơ mấy cội già
chim không cánh đậu thác ca vọng sầu
lưng trời lẻ bóng chim câu
phù vân lãng đãng ngang đầu nhân sinh
thời gian sao vẫn vô tình
đêm dài mãi ngóng bình minh cho đời .
( trang 55 )
kỷ niệm
hôm nay sinh nhật của em
nhớ ngày tháng ấy êm đềm biết bao
ngọt ngào tha thiết thuở nào
giờ đây tưởng tiếc nhìn sao cuối trời
mỗi chiều sóng đong biển khơi
đêm về tưởng nhớ tới người trong mơ
tình xưa xa mãi đâu ngờ
bâng khuâng hồn vẫn ngẩn ngơ tiếc thầm
tìm sao nơi chốn xa xăm
lãng khuây với bóng nguyệt trầm mộng mê
bao giờ thuyền mới trở về
cho sông trôi hết niềm thê thiết buồn
kỷ niệm tràn như mưa tuôn
triền miên cuộn với suối nguồn thương yêu.
( trang 135)
[]
thơ THANH CHƯƠNG..
( trích TÌNH BUỒN NHƠ MÃI / THANH CHƯƠNG
Nxb Little Saigon, Cali. USA 2009 ).
Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012
NGUYỄN ĐĂNG THỤC, NHÀ HIỀN TRIẾT / bài : Hồ Nam
100 khuôn mặt văn nghệ sĩ : Nguyễn Đăng Thục-
Hồ Nam & Vũ Uyên Giang / Đất Sống, USA 2006.
N g u y ễ n đ ă n g T h ụ c
n h à h i ề n t r i ế t ( 1908 - 1999 saigon )
bài : hồ nam
C hàng trai làng Thổ Khối, huyện Gia Lâm ( trước đây thuộc tỉnh Bắc Ninh, nay Hà Nội ). Nguyễn Đăng Thục vào đời giữa thời đại Âu hóa đang leo thang, đã được gia đình cho sang tây học. Đậu bằng kỹ sư hóa học, về nước, vào làm việc tại Nhà máy Tơ; tiếp , Nhà máy dệt Nam Định, ăn lương tây, vào đãng xã hội tây, sống đời âu hóa khá cao. Nhưng khi gặp Á-Nam-Trần-Tuấn-Khải , thì bỗng mang một cảm gíác hụt hẫng. Chính cái cảm gáic hụt hẫng này, đã khiến ông học chữ Hán, đọc lại cổ thư, và trở thành một hiền triết. Đất Nam Định xưa kia chính là nơi xuất phát của triều đình nhà Trần, nên còn lưu dấu nhiều huyền thoại về triếu đình có vị vua đã trở thành một tông phái Thiền Phật giáo ở Việtnam; Thiền Yên Tử. Nguyễn Đăng Thục vốn có tâm hồn yêu văn chương, nghệ thuật, thích trầm tư, nên rất được văn giới ở Nam Định lúc đó, mà người đứng đầu là thi sĩ Á-Nam-Trần-Tuấn-Khải mến thương, không câu nệ tuổi tác cho ngồi chung chiếu. Chính thời gian này, ông vớ được một sôa ài liệu về Tuệ Trung Thượng Sĩ, một trong những thiền sư khai sáng ra ' Thiền Yên Tử '.
Từ những trang sách của các bậc thiền sư thời nhà Trần, Nguyễn Đăng Thục bắt đầu lóe trong óc : một ý nghĩ, là phải nghiên cứu tư tưởng VN để xem dân nước ta có đầu óc truyền thống như thế nào - mà nay lại mất nước vào tay người Pháp, bị người Pháp đè đầu cưỡi cổ. Nghiên cứu xong tư tưởng VN, ông thấy rõ, trước khi dân tộc ta' dung hóa' các tư tưởng Ấn độ ( Bà la môn Phật giáo) , Trung quốc ( Khổng giáo ) - để chuyển biến thành' tam giáo đồng nguyên' , hầu như thích ứng và tồn tại; dân tộc Việt đã có tư tưởng củ riêng mình : tư tưởng bánh dày, bánh chưng, tư tưởng Tiên rồng . ( có từ đời Hùng Vương, trrước Phậtt, Lão, Khổng cả mấy ngàn năm ).
Từ nghiên cứu tư tưởng VN, Nguyễn Đăng Thục đã lập thuyết cho thời đại, khi viết cuốn
' Khoa hoc và Đạo học' , cho rằng Khoa học mà không có Đạo học sẽ đưa nhân loại xuống vực thẳm, của khủng khoảng .
Năm 1945, Hồ Hữu Tường , nhà tư tưởng lớn của miền Nam ra Bắc gặp Nguyễn Đăng Thục - sau khi gặp Nguyễn mạnh tường- đã nói với bạn bè rằng : trên toàn nước VN chỉ có 2 người là triết nhân có tư tưởng, đó là Lý Đông A và Nguyễn Đăng Thục; nhưng Lý Đông A không ' tập đại thành' được, như Nguyễn Đăng Thục - vì Lý Đông A quá mải mê làm chính trị .
Con người Nguyễn Đăng Thục biết rõ, chính trị lúc nào cũng quẩn quanh bên mình - nhưng ông rất ghét chính trị , và chỉ muốn làm văn hóa, làm một ông thầy giảng triết, và nghiên cứu quốc học. Giấc mộng này của ông đã đạt, khi ông là một trong những người khai sáng ra trường Đại học Văn khoa ở miền Nam Việtnam, dù rằng lúc đó, mấy ông khoa bảng cũ , như Thẩm Quỳnh Nguyễn Sĩ Gíác còn sống giỏ về quốc học hơn ông nhiều - vì là những ông nghè cuối củng của triều Nguyễn .
Nguyễn Đăng Thục đã đào tạo được nhiều lớp học trò biết tôn trọng tư tưởng truyền thống, đem tinh hoa của tư tưởng truyền thống còn lại hội nhập với thời đại. Nguyễn Đăng Thục đã hệ thống hóa tư tưởng và triết học Trung hoa, triết học Ấn độ- không phải chỉ làm giáo trình giảng dạy mà viết thành sách - và quan trọng hơn cả là ông trình bầy tư tưởng VN thành một hệ thống từ A đến Z. đâu ra đó.
Con người Nguyễn Đăng Thục là con người' củ mỉ cù mì' luôn luôn chú tâm giảng dạy và viết lách; nhưng cũng rất ' dân tộc ' - vai khi Mỹ đổ quân vô VN, ông đã lên tiếng phản đối và đã từng bị qui chụp là thân Cộng. Rồi khi chiến tranh VN leo thang, ông không ngầ nngại lý tên tham gia phong trào đòi hoà bình - sau được học trò ( cũ) can thiệp , nên ông không bị vô tù. . (.........) *.
Theo lời giáo sư Nguyễn Đăng Thạch , trưởng nam của nhà hiền triết Nguyễn Đăng Thục:
một số tác phẩm của ông in ra chỉ là một phần nhỏ, so với con số còn trong dạng bản thảo - và ông đang sắp xếp số di cảo đồ sộ của cha ông,, để có dịp sẽ in ra cho đời biết đến .
[]
HỒ NAM
-----
* Biên tập tạm lược bỏ một số chữ .
( trích 100 khuôn mặt văn nghệ sĩ -
Hồ Nam & Vũ Uyên Giang / Đất Sống xuất bản, USA 2006 - tr. 211-212).
Hồ Nam & Vũ Uyên Giang / Đất Sống, USA 2006.
N g u y ễ n đ ă n g T h ụ c
n h à h i ề n t r i ế t ( 1908 - 1999 saigon )
bài : hồ nam
C hàng trai làng Thổ Khối, huyện Gia Lâm ( trước đây thuộc tỉnh Bắc Ninh, nay Hà Nội ). Nguyễn Đăng Thục vào đời giữa thời đại Âu hóa đang leo thang, đã được gia đình cho sang tây học. Đậu bằng kỹ sư hóa học, về nước, vào làm việc tại Nhà máy Tơ; tiếp , Nhà máy dệt Nam Định, ăn lương tây, vào đãng xã hội tây, sống đời âu hóa khá cao. Nhưng khi gặp Á-Nam-Trần-Tuấn-Khải , thì bỗng mang một cảm gíác hụt hẫng. Chính cái cảm gáic hụt hẫng này, đã khiến ông học chữ Hán, đọc lại cổ thư, và trở thành một hiền triết. Đất Nam Định xưa kia chính là nơi xuất phát của triều đình nhà Trần, nên còn lưu dấu nhiều huyền thoại về triếu đình có vị vua đã trở thành một tông phái Thiền Phật giáo ở Việtnam; Thiền Yên Tử. Nguyễn Đăng Thục vốn có tâm hồn yêu văn chương, nghệ thuật, thích trầm tư, nên rất được văn giới ở Nam Định lúc đó, mà người đứng đầu là thi sĩ Á-Nam-Trần-Tuấn-Khải mến thương, không câu nệ tuổi tác cho ngồi chung chiếu. Chính thời gian này, ông vớ được một sôa ài liệu về Tuệ Trung Thượng Sĩ, một trong những thiền sư khai sáng ra ' Thiền Yên Tử '.
Từ những trang sách của các bậc thiền sư thời nhà Trần, Nguyễn Đăng Thục bắt đầu lóe trong óc : một ý nghĩ, là phải nghiên cứu tư tưởng VN để xem dân nước ta có đầu óc truyền thống như thế nào - mà nay lại mất nước vào tay người Pháp, bị người Pháp đè đầu cưỡi cổ. Nghiên cứu xong tư tưởng VN, ông thấy rõ, trước khi dân tộc ta' dung hóa' các tư tưởng Ấn độ ( Bà la môn Phật giáo) , Trung quốc ( Khổng giáo ) - để chuyển biến thành' tam giáo đồng nguyên' , hầu như thích ứng và tồn tại; dân tộc Việt đã có tư tưởng củ riêng mình : tư tưởng bánh dày, bánh chưng, tư tưởng Tiên rồng . ( có từ đời Hùng Vương, trrước Phậtt, Lão, Khổng cả mấy ngàn năm ).
Từ nghiên cứu tư tưởng VN, Nguyễn Đăng Thục đã lập thuyết cho thời đại, khi viết cuốn
' Khoa hoc và Đạo học' , cho rằng Khoa học mà không có Đạo học sẽ đưa nhân loại xuống vực thẳm, của khủng khoảng .
Năm 1945, Hồ Hữu Tường , nhà tư tưởng lớn của miền Nam ra Bắc gặp Nguyễn Đăng Thục - sau khi gặp Nguyễn mạnh tường- đã nói với bạn bè rằng : trên toàn nước VN chỉ có 2 người là triết nhân có tư tưởng, đó là Lý Đông A và Nguyễn Đăng Thục; nhưng Lý Đông A không ' tập đại thành' được, như Nguyễn Đăng Thục - vì Lý Đông A quá mải mê làm chính trị .
Con người Nguyễn Đăng Thục biết rõ, chính trị lúc nào cũng quẩn quanh bên mình - nhưng ông rất ghét chính trị , và chỉ muốn làm văn hóa, làm một ông thầy giảng triết, và nghiên cứu quốc học. Giấc mộng này của ông đã đạt, khi ông là một trong những người khai sáng ra trường Đại học Văn khoa ở miền Nam Việtnam, dù rằng lúc đó, mấy ông khoa bảng cũ , như Thẩm Quỳnh Nguyễn Sĩ Gíác còn sống giỏ về quốc học hơn ông nhiều - vì là những ông nghè cuối củng của triều Nguyễn .
Nguyễn Đăng Thục đã đào tạo được nhiều lớp học trò biết tôn trọng tư tưởng truyền thống, đem tinh hoa của tư tưởng truyền thống còn lại hội nhập với thời đại. Nguyễn Đăng Thục đã hệ thống hóa tư tưởng và triết học Trung hoa, triết học Ấn độ- không phải chỉ làm giáo trình giảng dạy mà viết thành sách - và quan trọng hơn cả là ông trình bầy tư tưởng VN thành một hệ thống từ A đến Z. đâu ra đó.
Con người Nguyễn Đăng Thục là con người' củ mỉ cù mì' luôn luôn chú tâm giảng dạy và viết lách; nhưng cũng rất ' dân tộc ' - vai khi Mỹ đổ quân vô VN, ông đã lên tiếng phản đối và đã từng bị qui chụp là thân Cộng. Rồi khi chiến tranh VN leo thang, ông không ngầ nngại lý tên tham gia phong trào đòi hoà bình - sau được học trò ( cũ) can thiệp , nên ông không bị vô tù. . (.........) *.
Theo lời giáo sư Nguyễn Đăng Thạch , trưởng nam của nhà hiền triết Nguyễn Đăng Thục:
một số tác phẩm của ông in ra chỉ là một phần nhỏ, so với con số còn trong dạng bản thảo - và ông đang sắp xếp số di cảo đồ sộ của cha ông,, để có dịp sẽ in ra cho đời biết đến .
[]
HỒ NAM
-----
* Biên tập tạm lược bỏ một số chữ .
( trích 100 khuôn mặt văn nghệ sĩ -
Hồ Nam & Vũ Uyên Giang / Đất Sống xuất bản, USA 2006 - tr. 211-212).
Thứ Tư, 11 tháng 4, 2012
Trăm ngôi nhà Nghệ sĩ Hà Nội / tập tùy bút Băng Sơn .
trăm ngôi nhà nghệ sĩ Hà nội
tập tùy bút Băng Sơn
( 1932 - 2010- Hà nội )
H à nội : bia cốt cách *
tùy bút : Băng Sơn
".. ... còn chuyện nhỏ nhặt nhất, nhưng không thể quên là ai trả tiền những bữa bia ấy ? Tất cả và không ai cả . Cư lần lượt , nhiều ít bất kể, mỗi ông theo thứ tự .... :
nào Kim Lân, Vân Long, Lê Sơn, Lê Thấu, Lê Đình, Hoài Việt, Phan Tại, Nguyễn Hà, Ngô Quân Miện, Trần Lê Văn, Thanh Châu và T.T.KH. và Thế Phong và Trần Nhật Thu , Hữu Ngọc, Phan Kế An ...
Băng Sơn điểm danh gặp gỡ, nay ai mất, ai còn ?
H à Nội đang nhan nhản quán bia đủ các cỡ . Nhà tư, biệt thự sửa lại . Rạp hát phá đi cũng căng lều . Hành lang khuôn viên sắp xếp một khoang trống . Nhớ lại những năm 60, bia hơi bắt đầu có, con phải pha thêm si-rô ** ngọt không mất tiền vào cho khách quen dần mà uống. Nay, người Hà Nội như cái thung lũng, cái ao, mọi nguồn bia, suối bia, sông bia trong nước và ngoài nước tuồn tràn vào lênh láng . Rạp Kim Đồng, rạp Đại Nam, phố Hàng Bè, phố Đội Cấn , Phan Chu Trinh, Hàm Long, Cung văn hóa Việt Xô, nhà máy Trần Hưng Đạo, câu lạc bộ Lao động và hang cùng ngõ hẻm ... chỗ nào cũng có đủ loại bia cho đủ loại người lai rai, bù khú, nhậu nhẹt, nâng cốc, tán gẫu, làm ăn ... Người ta còn thuê một đội ngũ thanh thiếu niên các tỉnh về làm cọc tiêu, giơ tay, chặn xe, đón khách, chỉ lối, dắt xe cho khách vào quán, bất chấp cản trở giao thông lòng đường .
K hách uống là ai ? Đủ mọi thành phần .
Trong số đó có một nhóm bạn tâm giao cũng là khách thương xuyên của mấy quán bia được chọn lựa . Họ không phải dân nghiền, càng không ba hoa đỏ mặt tía` tai hay hàm hồ bình phẩm. Họ đã ngồi qua nhiều quán, nơi đông chỗ vắng, nơi bia ngon bia nhạt, chỗ xô bồ ấm ĩ, chỗ thanh tao dễ chịu ... từ gốc cây dâu da xoan phố Trấn Hưng Đạo đến cung văn hóa Việt- Xô, rạp Kim Đồng, phố Hàng Bạc ... Họ ngồi quanh vài cái bàn kê xích lại gần nhau, nói năng từ tốn, uống bia thong thả, nhấm nháp qua loa đĩa lạc luộc, món nem chua, đĩa nộm, hay khoai tây rán rẻ tiền ... khi tranh luận gay gắt nhất cũng không đến nỗi giật mình bàn bên cạnh, và lúc đứng lên ra về cũng không ai ngật ngưỡng la đà quá chén hay thô lỗ lỡ lời ...
Họ là ai vậy, trong cái tiễu xã hội đặc biệt ấy ? Đó là mấy ông già, người trẻ nhất cũng ngót nghét 30 , người cao tuổi nhất thì cũng sống trọn gần thế kỷ XX giông bão . Họ làm nhiều nghề khác nhau, nhưng có điểm chung là gần gũi với văn chương, bút mực, mặc dầu nhìn bề ngoài họ không com-lê, cà-vạt sang trọng , không cặp ngoại giao, không ô-tô bóng loáng. Bụng không to, cằm không xệ, chưa ai phải chống ba-toong mà hầu như đều xương xương, gầy gò, chỉ có những đôi mắt là tinh anh, lời lời dí dỏm ... có thể đó cũng là những gương mặt của Hà Nội vào những năm của thế kỷ này .
Nổi tiếng từ những năm 30 với truyện ngắn Hoa Ti Gôn là nhà văn Thanh Châu, trước cả Tự Lực Văn Đoàn, trước cả phong trào Thơ mới, có anh cảnh sát khu vực phải theo dõi để dè chừng; nhưng khi Tổng Bí thư ( lúc ấy) Đỗ Mười đến thăm ông thì anh mới ngã ngửa người ra; đây là một người đáng để khâm phục, chứ không phải người đáng coi chừng . Từ truyện ngắn của ông mà văn học mới có vụ án văn chương đến nay vẫn chưa ngã ngũ : Mấy bài thơ của T.T.Kh về hoa Ti- Gôn, người cho rằng đó là Thâm Tâm Khánh, người bảo Tuấn Trình Khánh ; vài năm gần đây Thế Phong và Trần Nhật Thu còn viết cả một cuốn sách sai lầm về T.T.Kh. Trong thơ của T.T.Kh. có vườn Thanh, có người cho rằng đó là Thanh Hóa, người khác ( trong đó Thanh Châu) bảo đó chỉ là phố Thanh Miện gần Văn Miếu bây giờ , và sắc hoa tím vỡ ấy đánh dấu một thời kỳ văn học lãng mạn, người đồng thời duy nhất còn sót lại là Thanh Châu chăng ?
N hà hoạt động văn hóa có tầm thế giới là Hữu Ngọc. Ông từng phụ trách báo Việt nam bằng tiếng Pháp Le Viêt Nam Courrier , và nhà xuất bản Thế Giới , hiện là chủ tịch Quỹ văn hóa` Việt Nam -Thụy Điển, đã đóng góp nhiều cho văn hóa Việtnam, như trùng tu đình Nhà thờ Lý Thường Kiệt ( Ngọc Thụy, Gia Lâm ), dựng tượng nhà thơ Quang Dũng ở Đan Phượng, va hàng loạt về tác phẩm văn hóa Việtnam và thế giới. Ông không rời cái mũ vải trên đầu, phải chăng để che bớt cái trán hói, vì thời gian và lao động hay là để che cái bớt trên đó ? Hữu Ngọc nói ít, nhưng những ai chưa hiểu một điều gì đó về Việtnam và thế giới, ông sẵn sàng trình bày luôn , có dẫn chứng đông tây kim cổ rạch ròi, như một cố vấn, như một cuốn từ điển mở ra đúng trang cần thiết .
P han kế An làm nghề im lặng ( ông bảo thế ) là hội họa mà bức tranh Chiều Tây Bắc của ông vẽ trong thời khang chiến chông Pháp còn gây xuc động cho nhiều thế hệ người xem . Lạ một điều, xuất thân tầng lớp trên, đầy tài năng; nhưng vẫn ở một căn phòng quá chật hẹp, nồi niêu soong chảo lẫn với tác phẩm và bút vẽ - đến già lại đốc chứng làm thơ tình , mà thơ khá hay , không lủng củng , không môi hôn, vẫn đầy chất men say đắm. Hơi móm, nhưng có duyên, lịch lãm; bao giờ cũng mang theo một vài thứ` rượu riêng bên mình ( điều này hơi giống Nguyễn Tuân mà khác Nguyên Hồng ) . Ông bảo quê
Mông Phụ-Sơn Tây của ông từng có nhiều người Chàm cư ngụ, nên có nơi âm sắc giọng nói rất đặc biệt là vậy .
Nhà thơ Trần Lê Văn lại khác . Chân hơi giao chỉ, nên không thể đi giầy, quần áo lúc nào cũng xuềnh xoàng, có lẽ ông quen từ thời lên Thuận Châu dạy học và lấy được cô gái Thái xinh đẹp Bạc Thị Nâu là bà Văn bây giờ . Có con là liệt sĩ chống Mỹ, Trần Lê Văn làm nhiều thơ về con, đọc lại mà thấy tấm lòng người cha thấy con đầy cà gian nhà , khiến ta không cầm được lệ ! Hàng chục tập thơ và văn đã in. Trần quân còn là diễn giả quen thuộc của nhiều diễn đàn Hà Nội. Trần quân nói nhiều về Thanh Châu và Hữu Ngọc, có lẽ ví óc ông lúc nào cũng ứ tràn, từ người đồng hương của ông Tú Xương đến những người đương đại .
Ngô Quân Miện , ban thân Trần Lê Văn và Quang Dũng , ngược lại ít nói, mắt kính lúc nào cũng nháy nháy; nhưng mỗi lời nói đều dí dỏm, không ai không hưởng ứng, bật cừơi. Khóc với bạn, Ngô quân bao giờ cũng chỉnh tề, có khi còn đội thêm cái mũ phớt, làm ông đã thấp còn lùn đi thêm một chút . Thơ ông hiền lành mà đằm thắm, từng được xem cụ Tản Đà tắm truồng trên sông Đà - khi Ngô quân còn bé tí ( vì đồng hương Khê Thượng ) . Từng làm tổng biên tập một tờ báo, nhưng bị đảo chính, ông
vẫn chẳng buồn mà vẫn chì là người thơ bất chấp sự đời ghen ghét !
Vân Long, người thơ, chàng trai sinh ra từ Hà Nội, từng chui cột đèn cạnh ngõ Tràng An, chơi trốn tìm với nhà văn Nguyễn Khải ấu thơ , 15 năm luân lạc ở Hải Phòng, Hà Tây ; luôn tự cách tân thơ mình, nên đôi khi cảm xúc bị dồn nén nhường chỗ cho ý tưởng . Từng chơi đàn vĩ cầm trong giàn giao hưởng Việtnam, nhưng thơ cuốn hút hơn, ngọn bút mạnh hơn cây vĩ cầm để hàng hục tập thơ ra đời - trong đó có câu thơ mà nhiều lớp thanh niên chép vào sổ tay, nói về 2 người yêu nhau, mưa mờ xóa mà ông bảo mưa ghen : " Tình yêu chớm nở sao mà đẹp / Một thoáng nhìn nhau , mưa cũng ghen !
Văn quân cũng thuộc loại người hiền lành , chân tình với bạn bè; nhưng khi nói thì cũng hăng ra phết ! Nghỉ hưu từ Nhà xuất bản Hội nhà văn , ông vẫn xông xáo trên văn đàn, thi đàn và báo chí, như không hề coi mình là bước qua ngưỡng cửa 60.
Hoài Việt tức Việt Hoài , cao lớn, đẹp trai nổi tiếng từ thời còn là thấy giáo dạy văn cách đây nửa thế kỷ. Nhìn ôgn, không ai nghĩ là ông đã quá tuổi cổ lai hy; có lẽ vì ông dẻo dai; dẻo dai trong đời và dẻo dai bút lực; đã có hàng loạt sách của ông : gồm kịch thơ và nói về các nhà thơ nhà văn đương thời như Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính mà ông từng quen thân trong mối duyên hàn mặc . Hoài quân không uống bia, nhưng ông có mặt thường xuyên là do chất men người trong nhau, niềm tri kỷ thấm đẫm trong người, khiến một cốc nước suối cũng có thể làm ngây ngất .
Lê Đình viết ít , nhưng có mặt nhiều. Ông đang làm tờ tạp chí Việtnam hương sắc , hẳn là lịch lãm về các thú chơi người Hà Nội từ cây đến cá, từ đá đến gỗ , ông thường thanh minh là tạp chí của ông nghèo, nhậun bút thấp, chỉ dá mgọi đó là thù lao, và mong nhận được bài của nhiều bạn bè . Tờ tạp chí đã sống được nhiều năm, hẳn nó đã có chỗ đứng trong lòng nhiều người . Lê quân uống bia nhỏ nhẹ, cứ như ngắm xem trong cái bọt bia kia có lá có hoa không, có tiếng chim hay không và có lỗi nào phảis sửa trước khi len khuôn không
.
Bên cạnh những gương mặt quen thuộc ấy, thường xuyên ấy, lãng đãng như ngọn gió, thỉnh thoảng mới lướt qua là lão nhà văn Kim Lân , với truyện ngắn Làng bất hủ - và rồi Kim quân còn hóa thân thành Lão Hạc của Nam Cao trong điện ảnh . Phan Tại , nhà đạo diễn sân khấu tài hoa nhưng long đong, bạn bè phong cho ông cái tên một Phan cái gì cũng biết - bởi lĩnh vực nào ông cũng có thể góp phần hiểu biết của mình . Nguyễn Hà sinh thời ( mới mất vào tháng 8 / 1999) cười hà hà , nên có bút danh Nguyễn Hà, gần 70 tuổi vẫn trẻ thơ, vẫn lãng du đông đoài Nam Bắc, ra đi vì bệnh tháo đường, còn dở dang nhiều tác phẩm và tiếc đời không vượt qua được thế kỷ XX.
Lê Thấu , nhà báo kỳ cựu , đương kim tổng biên tập báo Sức khỏe, cũng đương kim là chồng nhà thơ nữ Hương Nghiêm. Có lần họp cộng tác viên, ông bỏ qua mọi thủ tục, lấy quán bia dưới gốc cây dầu da xoan làm phòng họp- không diễn văn, không phi lộ, uống bia xong, thưởng cho cộng átc viên , những bạn bia một chuyến quan họ BắcNinh ,mặc cho trời mưa gió .
Lê Sơn , một dịch giả uy tín, người cao to, nói cũng oang oang như hai cái to ấy phải song hành mới thỏa , có khi còn vội quá mà nói lắp, từng viết về Lênin ăn gì, ướp xác Lênin bằng gì , và có lẽ Lê quân là một trong những người am tường nhất về văn học Nga và Đông Âu chăng ?
Xuân thu nhị kỳ, nghĩa là bất chợt mới có thêm một đôi người khác ghé vào cái câu lạc bộ lưu động này một bữa , rồi tan ra như mây gió, như bèo mặt ao; vì không hợp nhau chăng - vì quá ồn ào chăng, vì quá khích bia hơn nhau chăng, không ai kết luận mà cứ mặc nó xoay vần.
Có qui định đấy, là chiều thứ 3 và chiều thứ 6, hẹn nhau buổi trước để gặp nhau buổi sau nhớ thay đổi quán. Ồn ào quá, không chịu được, đông khách quá để có kẻ phá đám cũng không chịu được . Các ông bàn phiếm , nhưng hình như cả thế giới đều có mặt , từ một bài thơ cổ đến một cuốn sách mới nhất ở châu Mỹ la tinh, từ Đường thi, Kinh thi đến những dự báo của thế kỷ XXI sắp tới, từ tặng nhau cuốn sách mới còn thơm mùi mực, ký ngaycạnh vỏ lạc rang và cốc bia sủi bọt, hoặc người ta đọc trên đài truyền hình theo tiếng Anh hay Pháp, cũng như gôn ngữ Việtnam đang đà phát triển ra sao, thanh niên ngày nay thông minh hơn lớ`p trước thế nào ...
Lại một điều, hình như chưa bao giờ một nửa của các ông có mặt ở dây, mặc dù không ông nào để râu để ta biết có ông nào thuộc loại râu quặp không . Còn chuyện nhỏ nhặt nhất, nhưng không thể quên, là ai trà tiền những bữa bia ấy ? tất cả và không ai cả . Cứ lần lượt, nhiểu ít bất kể, mổi ông theo thứ tự A, B, C trả một lần: công bằng sòng phẳng .
Mỗi ngày có bao nhiêu triệu lượt người uông bia trong các quán mở ra như nấm mùa xuân. Trong đó có bao nhiêu chuyện xô bồ, bao nhiêu chuyện nghiêm chỉnh. Có cách nào để tổng kết ? Không thể . Chỉ riêng mấy ấm khách này cũng là một nét sinh hoạt của Hà Nội văn hiến và hào hoa, thanh cao mà bình dị, lẫn vào số đông nhưng vẫn cốt cách riêng mình.
[]
BĂNG SƠN
5-2000
- -----
* tựa chính của tác giả BIA CỐT CÁCH .
** Biên tập cho in chữ nghiêng.
( trích TRĂM NGÔI NHÀ HÀ NỘI / BĂNG SƠN -
Nxb Thanh niên Hà Nội 2008 - tr. 265 - 271 )
tập tùy bút Băng Sơn
( 1932 - 2010- Hà nội )
H à nội : bia cốt cách *
tùy bút : Băng Sơn
".. ... còn chuyện nhỏ nhặt nhất, nhưng không thể quên là ai trả tiền những bữa bia ấy ? Tất cả và không ai cả . Cư lần lượt , nhiều ít bất kể, mỗi ông theo thứ tự .... :
nào Kim Lân, Vân Long, Lê Sơn, Lê Thấu, Lê Đình, Hoài Việt, Phan Tại, Nguyễn Hà, Ngô Quân Miện, Trần Lê Văn, Thanh Châu và T.T.KH. và Thế Phong và Trần Nhật Thu , Hữu Ngọc, Phan Kế An ...
Băng Sơn điểm danh gặp gỡ, nay ai mất, ai còn ?
H à Nội đang nhan nhản quán bia đủ các cỡ . Nhà tư, biệt thự sửa lại . Rạp hát phá đi cũng căng lều . Hành lang khuôn viên sắp xếp một khoang trống . Nhớ lại những năm 60, bia hơi bắt đầu có, con phải pha thêm si-rô ** ngọt không mất tiền vào cho khách quen dần mà uống. Nay, người Hà Nội như cái thung lũng, cái ao, mọi nguồn bia, suối bia, sông bia trong nước và ngoài nước tuồn tràn vào lênh láng . Rạp Kim Đồng, rạp Đại Nam, phố Hàng Bè, phố Đội Cấn , Phan Chu Trinh, Hàm Long, Cung văn hóa Việt Xô, nhà máy Trần Hưng Đạo, câu lạc bộ Lao động và hang cùng ngõ hẻm ... chỗ nào cũng có đủ loại bia cho đủ loại người lai rai, bù khú, nhậu nhẹt, nâng cốc, tán gẫu, làm ăn ... Người ta còn thuê một đội ngũ thanh thiếu niên các tỉnh về làm cọc tiêu, giơ tay, chặn xe, đón khách, chỉ lối, dắt xe cho khách vào quán, bất chấp cản trở giao thông lòng đường .
K hách uống là ai ? Đủ mọi thành phần .
Trong số đó có một nhóm bạn tâm giao cũng là khách thương xuyên của mấy quán bia được chọn lựa . Họ không phải dân nghiền, càng không ba hoa đỏ mặt tía` tai hay hàm hồ bình phẩm. Họ đã ngồi qua nhiều quán, nơi đông chỗ vắng, nơi bia ngon bia nhạt, chỗ xô bồ ấm ĩ, chỗ thanh tao dễ chịu ... từ gốc cây dâu da xoan phố Trấn Hưng Đạo đến cung văn hóa Việt- Xô, rạp Kim Đồng, phố Hàng Bạc ... Họ ngồi quanh vài cái bàn kê xích lại gần nhau, nói năng từ tốn, uống bia thong thả, nhấm nháp qua loa đĩa lạc luộc, món nem chua, đĩa nộm, hay khoai tây rán rẻ tiền ... khi tranh luận gay gắt nhất cũng không đến nỗi giật mình bàn bên cạnh, và lúc đứng lên ra về cũng không ai ngật ngưỡng la đà quá chén hay thô lỗ lỡ lời ...
Họ là ai vậy, trong cái tiễu xã hội đặc biệt ấy ? Đó là mấy ông già, người trẻ nhất cũng ngót nghét 30 , người cao tuổi nhất thì cũng sống trọn gần thế kỷ XX giông bão . Họ làm nhiều nghề khác nhau, nhưng có điểm chung là gần gũi với văn chương, bút mực, mặc dầu nhìn bề ngoài họ không com-lê, cà-vạt sang trọng , không cặp ngoại giao, không ô-tô bóng loáng. Bụng không to, cằm không xệ, chưa ai phải chống ba-toong mà hầu như đều xương xương, gầy gò, chỉ có những đôi mắt là tinh anh, lời lời dí dỏm ... có thể đó cũng là những gương mặt của Hà Nội vào những năm của thế kỷ này .
Nổi tiếng từ những năm 30 với truyện ngắn Hoa Ti Gôn là nhà văn Thanh Châu, trước cả Tự Lực Văn Đoàn, trước cả phong trào Thơ mới, có anh cảnh sát khu vực phải theo dõi để dè chừng; nhưng khi Tổng Bí thư ( lúc ấy) Đỗ Mười đến thăm ông thì anh mới ngã ngửa người ra; đây là một người đáng để khâm phục, chứ không phải người đáng coi chừng . Từ truyện ngắn của ông mà văn học mới có vụ án văn chương đến nay vẫn chưa ngã ngũ : Mấy bài thơ của T.T.Kh về hoa Ti- Gôn, người cho rằng đó là Thâm Tâm Khánh, người bảo Tuấn Trình Khánh ; vài năm gần đây Thế Phong và Trần Nhật Thu còn viết cả một cuốn sách sai lầm về T.T.Kh. Trong thơ của T.T.Kh. có vườn Thanh, có người cho rằng đó là Thanh Hóa, người khác ( trong đó Thanh Châu) bảo đó chỉ là phố Thanh Miện gần Văn Miếu bây giờ , và sắc hoa tím vỡ ấy đánh dấu một thời kỳ văn học lãng mạn, người đồng thời duy nhất còn sót lại là Thanh Châu chăng ?
N hà hoạt động văn hóa có tầm thế giới là Hữu Ngọc. Ông từng phụ trách báo Việt nam bằng tiếng Pháp Le Viêt Nam Courrier , và nhà xuất bản Thế Giới , hiện là chủ tịch Quỹ văn hóa` Việt Nam -Thụy Điển, đã đóng góp nhiều cho văn hóa Việtnam, như trùng tu đình Nhà thờ Lý Thường Kiệt ( Ngọc Thụy, Gia Lâm ), dựng tượng nhà thơ Quang Dũng ở Đan Phượng, va hàng loạt về tác phẩm văn hóa Việtnam và thế giới. Ông không rời cái mũ vải trên đầu, phải chăng để che bớt cái trán hói, vì thời gian và lao động hay là để che cái bớt trên đó ? Hữu Ngọc nói ít, nhưng những ai chưa hiểu một điều gì đó về Việtnam và thế giới, ông sẵn sàng trình bày luôn , có dẫn chứng đông tây kim cổ rạch ròi, như một cố vấn, như một cuốn từ điển mở ra đúng trang cần thiết .
P han kế An làm nghề im lặng ( ông bảo thế ) là hội họa mà bức tranh Chiều Tây Bắc của ông vẽ trong thời khang chiến chông Pháp còn gây xuc động cho nhiều thế hệ người xem . Lạ một điều, xuất thân tầng lớp trên, đầy tài năng; nhưng vẫn ở một căn phòng quá chật hẹp, nồi niêu soong chảo lẫn với tác phẩm và bút vẽ - đến già lại đốc chứng làm thơ tình , mà thơ khá hay , không lủng củng , không môi hôn, vẫn đầy chất men say đắm. Hơi móm, nhưng có duyên, lịch lãm; bao giờ cũng mang theo một vài thứ` rượu riêng bên mình ( điều này hơi giống Nguyễn Tuân mà khác Nguyên Hồng ) . Ông bảo quê
Mông Phụ-Sơn Tây của ông từng có nhiều người Chàm cư ngụ, nên có nơi âm sắc giọng nói rất đặc biệt là vậy .
Nhà thơ Trần Lê Văn lại khác . Chân hơi giao chỉ, nên không thể đi giầy, quần áo lúc nào cũng xuềnh xoàng, có lẽ ông quen từ thời lên Thuận Châu dạy học và lấy được cô gái Thái xinh đẹp Bạc Thị Nâu là bà Văn bây giờ . Có con là liệt sĩ chống Mỹ, Trần Lê Văn làm nhiều thơ về con, đọc lại mà thấy tấm lòng người cha thấy con đầy cà gian nhà , khiến ta không cầm được lệ ! Hàng chục tập thơ và văn đã in. Trần quân còn là diễn giả quen thuộc của nhiều diễn đàn Hà Nội. Trần quân nói nhiều về Thanh Châu và Hữu Ngọc, có lẽ ví óc ông lúc nào cũng ứ tràn, từ người đồng hương của ông Tú Xương đến những người đương đại .
Ngô Quân Miện , ban thân Trần Lê Văn và Quang Dũng , ngược lại ít nói, mắt kính lúc nào cũng nháy nháy; nhưng mỗi lời nói đều dí dỏm, không ai không hưởng ứng, bật cừơi. Khóc với bạn, Ngô quân bao giờ cũng chỉnh tề, có khi còn đội thêm cái mũ phớt, làm ông đã thấp còn lùn đi thêm một chút . Thơ ông hiền lành mà đằm thắm, từng được xem cụ Tản Đà tắm truồng trên sông Đà - khi Ngô quân còn bé tí ( vì đồng hương Khê Thượng ) . Từng làm tổng biên tập một tờ báo, nhưng bị đảo chính, ông
vẫn chẳng buồn mà vẫn chì là người thơ bất chấp sự đời ghen ghét !
Vân Long, người thơ, chàng trai sinh ra từ Hà Nội, từng chui cột đèn cạnh ngõ Tràng An, chơi trốn tìm với nhà văn Nguyễn Khải ấu thơ , 15 năm luân lạc ở Hải Phòng, Hà Tây ; luôn tự cách tân thơ mình, nên đôi khi cảm xúc bị dồn nén nhường chỗ cho ý tưởng . Từng chơi đàn vĩ cầm trong giàn giao hưởng Việtnam, nhưng thơ cuốn hút hơn, ngọn bút mạnh hơn cây vĩ cầm để hàng hục tập thơ ra đời - trong đó có câu thơ mà nhiều lớp thanh niên chép vào sổ tay, nói về 2 người yêu nhau, mưa mờ xóa mà ông bảo mưa ghen : " Tình yêu chớm nở sao mà đẹp / Một thoáng nhìn nhau , mưa cũng ghen !
Văn quân cũng thuộc loại người hiền lành , chân tình với bạn bè; nhưng khi nói thì cũng hăng ra phết ! Nghỉ hưu từ Nhà xuất bản Hội nhà văn , ông vẫn xông xáo trên văn đàn, thi đàn và báo chí, như không hề coi mình là bước qua ngưỡng cửa 60.
Hoài Việt tức Việt Hoài , cao lớn, đẹp trai nổi tiếng từ thời còn là thấy giáo dạy văn cách đây nửa thế kỷ. Nhìn ôgn, không ai nghĩ là ông đã quá tuổi cổ lai hy; có lẽ vì ông dẻo dai; dẻo dai trong đời và dẻo dai bút lực; đã có hàng loạt sách của ông : gồm kịch thơ và nói về các nhà thơ nhà văn đương thời như Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính mà ông từng quen thân trong mối duyên hàn mặc . Hoài quân không uống bia, nhưng ông có mặt thường xuyên là do chất men người trong nhau, niềm tri kỷ thấm đẫm trong người, khiến một cốc nước suối cũng có thể làm ngây ngất .
Lê Đình viết ít , nhưng có mặt nhiều. Ông đang làm tờ tạp chí Việtnam hương sắc , hẳn là lịch lãm về các thú chơi người Hà Nội từ cây đến cá, từ đá đến gỗ , ông thường thanh minh là tạp chí của ông nghèo, nhậun bút thấp, chỉ dá mgọi đó là thù lao, và mong nhận được bài của nhiều bạn bè . Tờ tạp chí đã sống được nhiều năm, hẳn nó đã có chỗ đứng trong lòng nhiều người . Lê quân uống bia nhỏ nhẹ, cứ như ngắm xem trong cái bọt bia kia có lá có hoa không, có tiếng chim hay không và có lỗi nào phảis sửa trước khi len khuôn không
.
Bên cạnh những gương mặt quen thuộc ấy, thường xuyên ấy, lãng đãng như ngọn gió, thỉnh thoảng mới lướt qua là lão nhà văn Kim Lân , với truyện ngắn Làng bất hủ - và rồi Kim quân còn hóa thân thành Lão Hạc của Nam Cao trong điện ảnh . Phan Tại , nhà đạo diễn sân khấu tài hoa nhưng long đong, bạn bè phong cho ông cái tên một Phan cái gì cũng biết - bởi lĩnh vực nào ông cũng có thể góp phần hiểu biết của mình . Nguyễn Hà sinh thời ( mới mất vào tháng 8 / 1999) cười hà hà , nên có bút danh Nguyễn Hà, gần 70 tuổi vẫn trẻ thơ, vẫn lãng du đông đoài Nam Bắc, ra đi vì bệnh tháo đường, còn dở dang nhiều tác phẩm và tiếc đời không vượt qua được thế kỷ XX.
Lê Thấu , nhà báo kỳ cựu , đương kim tổng biên tập báo Sức khỏe, cũng đương kim là chồng nhà thơ nữ Hương Nghiêm. Có lần họp cộng tác viên, ông bỏ qua mọi thủ tục, lấy quán bia dưới gốc cây dầu da xoan làm phòng họp- không diễn văn, không phi lộ, uống bia xong, thưởng cho cộng átc viên , những bạn bia một chuyến quan họ BắcNinh ,mặc cho trời mưa gió .
Lê Sơn , một dịch giả uy tín, người cao to, nói cũng oang oang như hai cái to ấy phải song hành mới thỏa , có khi còn vội quá mà nói lắp, từng viết về Lênin ăn gì, ướp xác Lênin bằng gì , và có lẽ Lê quân là một trong những người am tường nhất về văn học Nga và Đông Âu chăng ?
Xuân thu nhị kỳ, nghĩa là bất chợt mới có thêm một đôi người khác ghé vào cái câu lạc bộ lưu động này một bữa , rồi tan ra như mây gió, như bèo mặt ao; vì không hợp nhau chăng - vì quá ồn ào chăng, vì quá khích bia hơn nhau chăng, không ai kết luận mà cứ mặc nó xoay vần.
Có qui định đấy, là chiều thứ 3 và chiều thứ 6, hẹn nhau buổi trước để gặp nhau buổi sau nhớ thay đổi quán. Ồn ào quá, không chịu được, đông khách quá để có kẻ phá đám cũng không chịu được . Các ông bàn phiếm , nhưng hình như cả thế giới đều có mặt , từ một bài thơ cổ đến một cuốn sách mới nhất ở châu Mỹ la tinh, từ Đường thi, Kinh thi đến những dự báo của thế kỷ XXI sắp tới, từ tặng nhau cuốn sách mới còn thơm mùi mực, ký ngaycạnh vỏ lạc rang và cốc bia sủi bọt, hoặc người ta đọc trên đài truyền hình theo tiếng Anh hay Pháp, cũng như gôn ngữ Việtnam đang đà phát triển ra sao, thanh niên ngày nay thông minh hơn lớ`p trước thế nào ...
Lại một điều, hình như chưa bao giờ một nửa của các ông có mặt ở dây, mặc dù không ông nào để râu để ta biết có ông nào thuộc loại râu quặp không . Còn chuyện nhỏ nhặt nhất, nhưng không thể quên, là ai trà tiền những bữa bia ấy ? tất cả và không ai cả . Cứ lần lượt, nhiểu ít bất kể, mổi ông theo thứ tự A, B, C trả một lần: công bằng sòng phẳng .
Mỗi ngày có bao nhiêu triệu lượt người uông bia trong các quán mở ra như nấm mùa xuân. Trong đó có bao nhiêu chuyện xô bồ, bao nhiêu chuyện nghiêm chỉnh. Có cách nào để tổng kết ? Không thể . Chỉ riêng mấy ấm khách này cũng là một nét sinh hoạt của Hà Nội văn hiến và hào hoa, thanh cao mà bình dị, lẫn vào số đông nhưng vẫn cốt cách riêng mình.
[]
BĂNG SƠN
5-2000
- -----
* tựa chính của tác giả BIA CỐT CÁCH .
** Biên tập cho in chữ nghiêng.
( trích TRĂM NGÔI NHÀ HÀ NỘI / BĂNG SƠN -
Nxb Thanh niên Hà Nội 2008 - tr. 265 - 271 )
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)