Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2012

the land of Ch' i - poems by walt curtis ( USA)


                                                     THE LAND OF CH' I  

                                            poems by  Walt  Curtis



                     1. phoenix

 When I die like an aborted rabbit
 burn what remains in white-hot flame
 My soul, like a love-smitten phoenix ,
will fly upward in the melancholy blue 
and find a home calm And devoid of dew .

                                                                                               2. after Kabir

                                                                                     The Guest is the one you meet
                                                                                     and fall in love with
                                                                                     along the Way.   The Guest
                                                                                     is you yourself who
                                                                                     you invite into your own house.
                                                                                    The law of Life is that
                                                                                    we're all guests passing through,
                                                                                     so be hospitable to your own Soul.


                    3. The Land of Ch' i 

China should be called " Chi land "
What is chi ? It's in the body  
and in the landscape. It must
flow like water.  When it's blocked,
life is crippled or dies ...
They discovered it.   The Tao
bless them !   Thousands of years ago
the Chinese use herbs,
acupuncture and Tai Chi for health.
When will we in the West learn
a quick fix does not come in a pill,
with a surgeon's knofe, or
 a shoddy world view ?   The flow
 and force of life is in every land
and culture.   The Earth has chi.  
Hills  nad rocks and ridges, sky
 and clouds and water courses
 stream with the energy of life ---
our blood veins, bones and muscles
know it.   The wise Chinese name it. 
 The vital element in life is" chi".  
Nurture, philosophize, move with it.
 Key your life to chi - be happy .


                      4. The Lotus

is a symbol of purity in Idian
 and Chinese Buddhist iconography.
 How true ! In yoga the lotus
position is so sensual, tranquil
and meditative.   One's body
and spirit merge with the All,
 the highest achievement and teaching
by the master .   We are One
with the universe, like an opening
flower, offering the  perfume
of our being.   From the mud,
white lotus --- blossom symbol
of love !   That's how I feel
about homosexuality!   Buddha
 knew that --- Nothing is dirty
 to the Pure Mind.   The living flower
 is a mudra, shinning example
in Nature of faith .   Shit becomes
 lotus, rotting corpse new life.

ARIL.  22  04  EARTH DAY
 'YOUR BIRTHDAY IS YOUR EARTH DAY"


poems by WALT CURTIS


-------
"WALT CURTIS, PORTLAND'  S OWN IRREDEEMABLE, IRREVENT AND IRRESPRESSIBLE ' STREET POET ' ... "
 THE OREGONIAN

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2012

những khuôn mặt văn nghệ đã đi qua đời tôi - tạ tỵ



                              NHỮNG KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ ĐÃ ĐI QUA ĐỜI TÔI      16
                                                       hồi ký văn học : tạ tỵ


           Tôi không nhớ rõ lắm trong trường hợp nào, tôi quen học giả Lê Văn Siêu- hình như qua Hoàng Trọng Miên thì phải .   Nhòm HÀN THUYÊN  quả thực không có bao nhiêu, chỉ vài mống, mà nay  đã vô Nam : Nguyễn Đưc Quỳnh, Lê Văn Siêu.   Còn Trương Tửu và người anh vợ  chủ nhà xuất bản Hàn Thuyên đều  đã đầu hàng CS.   Tôi biết tiếng và cảm  phục Lê văn Siêu, từ lúc chưa quen anh, qua mấy cuốn sách dịch.   Lê Văn Siêu khi trẻ cũng học trường Bách nghệ , trước Phạm Duy nhiều năm.   Phạm Duy bỏ ngang vì quá lười, hơn nữa,  cái nghề NguộiRèn không quyến rũ  để Duy đeo đuổi, còn Lê văn Siêu học tới tốt nghiệp nghề Mộc.    Sau khi tốt nghiệp, Lê văn Siêu không làm cái nghề đã học, lại quay sang theo đuổi chính trị, rồi viết sách.   Lê văn Siêu dáng người cao lớn, khuôn mặt lưỡi cày, vầng trán cao và  hình như lúc nào nụ cười cũng nở trên môi.   Anh có lối nói chuyện hồn nhiên, mỗi lời nói như được cân nhắc , chứ khơng nói bừa bãi.   Tuy mới quen, nhưng Lê Văn Siêu đối với tôi như chỗ thân tình .  Anh mời tôi đến nhà  ở đường Võ  Tánh *  cũng gần chỗ  tôi làm việc.  Một căn nhà gỗ, có cầu thang bên ngoài , đưa thẳng lên lầu, nơi anh làm việc.   Anh nói với tôi, đây là căn nhà DÂN QUYỀN. Thấy tôi không hiểu tại sao lại gọi  nhà DÂN QUYỀN , anh giải thích:
         "  chữ DÂN QUYỀN ở đây  không phải là quyền của dân chúng mà chỉ là cách nói lái : QUYÊN DẦN ! "
         ...  chỉ vì nghèo ,không có tiền mua vật liệu làm nhà trong 1 lúc, nên 1 phần tự thực hiện, 1 phần nhờ anh em giúp đỡ vật  liệu.   Căn nhà gỗ của Lê Văn Siêu    nằm sâu trong ngõ, bên ngoài  là những căn nhà  bán ống cống, gạch ngói , mộ bia làm bằng xi măng .*  Trong nhà trống trơn, ngoài bộ bàn ghế  tiếp khách
---------------------------
*   tác giả  tưởng đường Võ Tánh ( Saigon 1 )  kéo dài  tới đường  Nguyễn Trãi ( khu vực Saigon 5) . Đúng ra,   căn nhà gổ tuềnh toàng  của  Lê văn Siêu nằm trên đường Nguyễn Trãi ( qua ngã tư Trần Bình Trọng + Nguyễn Trãi), đi từ phía  Saigon xuống, nhà  LVS  nằm bên tay phải, trong ngõ - đúng như Tạ  Tỵ tả lại -   bên ngoài bán vật liẹu xây dựng.  Một  điều nữa là   Phòng 5 Bộ Tổng tham mưu nằm trên đường Trần Hưng Đạo , gần  nơi Tạ Tỵ làm việc .(  "...cũng gần  chỗ tôi ( Tạ Tỵ )  làm việc  ... "  ).
           Lê văn Siêu dính líu tới một vụ đạo văn,  Phổ Đức viết  : "... Bấy giờ văn nghệ miền Nam rất sợ  Thế Phong, vì anh viết tất cả sự thật các văn nghệ sĩ bê bối, nhu Lê văn Siêu đạo văn người khác...   " / ' NHÀ VĂN THẾPHONG, CON NGỰA BẤT KHAM ... / PHỔ ĐỨC <tanmanvanchuongthephong.blogspot.com>  (TP).
--------------------------
 đã cũ , và chiếc bàn viết, trừ chiếc kệ khá lớn.   Khi tôi quen anh, anh đang hợp tác với nhà xuất bản Phạm Văn Tươi, chuyên dịch loại sách  nói vê danh nhân thế giới ... để làm gương cho thanh niên việt, như nhà văn học Nguyễn Hiến Lê dích loại sách Học làm người  vậy.   Tôi   thích tính tình Lê Văn Siêu, anh luôn tỏ ra hào nhã, vui với cái nghèo, chưa bao giờ nghe anh ta thán về sô phận, hoặc, ganh ghét ai.
          Một buổi nhàn rỗi, tôi bỏ sở tới thăm anh, vì có lòng nhớ.   Nhìn thấy tôi đến, chi Siêu ngước mắt lên lầu, nói:
           " Anh ơi! có khách !"
           Tôi nghe tiếng dép khua trên sàn gỗ.   Lê văn Siêu đứng ở cấu thang, ngó  xuống, cười khà khà :
          -... may quá, ông đến chơi, có cả anh Nguyễn Thiệu Lâu ở đây nữa.

          Quả thực, tôi không quen Nguyễn Thiệu Lâu , dù lúc trẻ, học khá giỏi, nhà  nghèo, lại muốn theo học ở Pháp, thì cần phải có tiền, nên gia đònh đã chọn một người vợ cho ông là con nhà giầu.   Do đó, ông có tiền đi Pháp học.   Đỗ bằng Cử nhân Sử tại Pháp, trở về Việtnam, ông dạy tại Lycée ( Albert Sarraut ?). Nhưng từ ngày có danh phận, ông tỏ thái độ khinh bỉ vợ, người đã nuôi ông ăn học thành tài.   Mỗi lần uống rượu say, ông chửi vợ , đanh con; đến nỗi vợ con phải chạy trốn sang nhà hàng xóm để tránh những trận đòn.
             Sau 20- 7- 1954,  gia đình ông vô Nam, ông tiếp tục đi dạy, dạy ở nhiều trường, trong đó có nữ trung học.   Nguyễn Thiệu Lâu tuy có học, nhưng nhân cách, đạo đức rất kém.   Trong giờ giải lao, ông dám vạch quần đái vào gốc cây giữa sân trường, trước mặt các nữ sinh, coi như không có ai.   Do vậy, tôi không mấy thích ông ta, nay, bỗng nhiên gặp tại nhà Lê Văn Siêu  , nên tôi không vui, nhưng chả lẽ lại quay về, sợ Lê văn Siêu hiểu lầm.   Tôi bước từng bậc thang một cách mệt mỏi.   Lên hết bực thang, tôi nhìn vào trong nhà, thấy 1 người đứng tuổi, mặt đỏ gay, hướng nhìn về phía tôi.   Sau lời giới thiệu chủ nhà, chúng tôi bắt tay nhau.   Không thích, tôi vẫn giữ nét mặt thản nhiên, coi như không biết chút gì về đời tư Nguyễn Thiệu Lậu.

              Để bắt trớn câu chuyện, Lê Văn Siêu nói Nguyễn Thiệu Lâu đang nghiên cứu về nhà  Tây Sơn và dấu tich ngôi mộ Nguyễn Huệ.  Qua câu chuyện sử học, tôi nhận thấy, quả Nguyễn Thiệu Lâu có 1 sự hiểu biết khá sâu rộng về địa hạt chuyên môn, Khi học ở Pháp,  ông ta chỉ học về sử Pháp, nhưng nhờ trí thông minh, Nguyễn Thiệu Lâu trước chuyển biến lịch sử, cũng tự mình biết xoay chiều, quay sang nghiên cứu về sử Việtnam, ngõ hầu còn dùng nó để mưu sinh.   Lê Văn Siêu lấy ly rót rượu đế mời tôi uống.   Tôi từ chối, lấy cớ phải quay về sở làm việc, nên không thể uống rượu.   Còn Nguyễn Thiệu Lâu nốc chừng hai tớp, đã cạn 1 ly.   Tôi thấy sự gặp gỡ này không mấy hứng thú, nên xin phép phải về sở.   Lê Văn Siêu không giữ, đua tôi ra đến tận đầu cầu thang, tôi nghe từ trong nhà nói vọng ra :
         " Lạ nhỉ, lính tráng mà không biết uống rượu !"
          Tôi không thích nghe câu này.   Lần gặp sau, có phàn nàn với Lê văn Siêu, thì anh cho biết, bản chất Nguyễn Thiệu Lâu là  vậy.
         "....   Khi men rượu đã ngấm vào máu, thì chẳng coi trời vào đâu, bạ gì nói đấy,  cậu để ý làm chi. Thực ta tôi có chơi với hắn  đâu,  tự đến làm quen, thế mà lúc say, hắn nói bậy cả  với tôi . Thôi bỏ qua !?"

          Vi quen Lê văn Siêu, nên tôi biết Phạm Văn Tươi, một người có tâm huyết với văn hóa.  Phạm Văn Tươi, người miền Nam, vóc người tầm thước, ăn nói chừ ngmực, rất khôn khéo, chứ không bộp chộp như phần đông người Nam.   Có lẽ do nghề nghiệp đã buộc anh phải cư xử như vậy.   Phạm Văn Tươi nhờ tôi trình bày vài mẫu bìa cho những cuốn sách sắp xuất bản.   Vấn đề tiền nong, Phạm văn Tươi cư xử rất tế nhị, sòng phẳng.   Sự hợp tác giữa Lê văn Siêu và Phạm Văn Tươi cũng không được lâu, có thể vì cái số  anh Siêu hơi lận đận !  Sau Lê văn Siêu, Phạm văn Tươi có Nguyễn Hiến Lê.

        Nói đúng, Lê Văn Siêu hoàn toàn sống nhờ vào ngòi bút, do vậy, nếu chẳng chỗ này, anh phải tìm chỗ khác ngay; chứ không, làm sao nuôi nổi vợ và 1 đàn con lốc nhốc.   Rời nhà xuất bản Phạm Văn Tươi,  Lê Văn Siêu cộng tác với nhà văn hóa Hồ Hữu Tường, khi ấy  HHTường đang chủ trương báo ĐÔNG PHƯƠNG, với thuyết trung-lập-chế.  Tòa soạn báo  đặt ở đường  Thủ khoa Huân , phía gần cổng sau Dinh Độc Lập.

          Một buổi, Lê Văn Siêu đưa tôi đến tòa soạn  chơi, để gặp Hồ Hữu Tường.  Tôi biết tiếng, chưa có dịp làm quen,  kể từ ngày Đại hội văn hóa , do VM tổ chức  ở Hànội 1946.   Trong tủ sách của tôi có cuốn TƯƠNG LAI VĂN HOÁ VIỆTNAM   do Hồ Hữu Tường biên soạn.    Tư tưởng HHTường được thể hiện trong cuốn sách mỏng đó, không phải hoàn toàn vô ích, hoặc là không tưởng !   Sở dĩ nó không được VM hoan nghênh, vì lập trường chính trị ( đệ tứ - TP )  của tác giả.    Hơn nữa ... cái gì của họ làm ra, cái đó mới là khuôn vàng, thước ngọc, bắt mọi người phục tùng.

          Hồ Hữu Tường, khuôn mặt lớn  của nền văn hóa miền Nam, tác phẩm giả tưởng PHI LẠC SANG TÀU , với nhân vật  Thằng Mõ làng Cổ Nhuế, làng chuyên hót phân người , trở thánh chính trị gia, nhà thuyết khách như Trương Nghi, Tô Tần thời Chiến quốc, làm say mê người đọc.   Ngoài tác phẩm trên, tác giả còn viết nhiều bài đăng trên nhiều báo, đường lối chủ trương chính trị đệ tứ  quốc tế - TP)  .   Sau đó, tác giả cho ra mắt PHI LẠC NÁO HOA KỲ , cuốn này ít được hoan nghênh hơn.  Sự nghiệp cách mạng HHTường không giống sự nghiệp chính trị hiển hách Tạ Thu Thâu ,  hoạt động chống Pháp ngay đưới mũi Pháp, vào tù, ra khám nhiều lần.  HHTường chi dùng văn hóa làm cách mạng, hoặc nói cách khác ; làm cách mạng qua văn hóa - bởi vậy-  HHTường ra báo, viết sách không đi ra ngoài ước vọng đó.

         Hồ Hữu Tường, người to mập, chắc nịch,  hơi thiếu chiều cao.   tác giả cười với hai hàm răng vàng chóe, và hình như lúc nào, người ta cũng thấy ông cười - vì lý do - hai môi tác giả luôn luôn hé mở, không khép kín lại được.
          Hồ Hữu Tường nắm chặt tay tôi, mời vô phòng khách của tòa soạn.   Sự thực, phòng khách chỉ có 1 chiếc bàn nhỏ, vài chiếc ghế  tiếp bằng hữu.   Hồ Hữu Tường ăn nói bộc trực, tác phong người miền Nam. sau vài câu xã giao, tác giả nói với tôi về tình hình chính trị thế giới và Việtnam, chế độ phong kiến, thực dân v. v...  Sự thật, tôi không mấy thích  nghe chuyện chính trị ( đến nay vẫn vậy) , chỉ  nghe,  thỉnh thoảng hỏi vài ba điều, chứng tỏ có nghe câu chuyện đang hướng dẫn.   Tôi  chẳng biết  thuyết trung- lập- chế  của HHTường có  hợp với Lê văn Siêu không/ - tôi không biết - chỉ thấy  anh   uống nuớc trà, cười khà klhà, họa hoằn góp ý vài câu.

           Tình hình chính trị miền Nam biến chuyển mạnh cả về mặt quân sự.   Chính quyền Ngô Đình Diệm sau khi truất  phế Bảo Đại, củng cố địa vị, diệt các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên - chỉ trừ tướng Trịnh Minh Thế -  theo ông Diệm ngay từ đầu, với lực lượng quân sự sẵn có trong tay.  Còn các lực lượng võ trang của tướng Năm Lửa, Ba Cụt, Bẩy Viễn đều bị dẹp tan.
           Vì có  dính dáng đến Bẩy Viễn, nên Trần Văn Ân , chủ nhiệm ĐỜI MỚI và Hồ Hữu Tường cùng nhiều người khác, bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giữ, đày ra Côn Đảo.   Kể từ ngày đó, báo ĐỜI MỚI , báo ĐÔNG PHƯƠNG bị đóng cửa.

          Thời gian vẫn lạnh lùng trôi đi đưới sự cai trị cúa chính thể càng ngày càng được  người Mỹ ủng hộ.   Miền Nam tương đối ít bị xáo trộn về chính trị, quân sự- trừ sự đương đầu vời CS - vì các cán bộ nằm vùng CS hoạt động trở lại cả về chính trị, quân sự- sau 2  năm ký kết mà không có hiệp thương giữa 2 miền Nam, Bắc.   Chính quyền Ngô Đình Diệm ,  chính quyền cương quyết chống Cộng, cũng như chống tệ đoan xã hội.  nếu cứ cái đà này mà tiến, miền Nam sẽ lớm mạnh, có thể đứng vững; dầu không có chi viện từ bên ngoài.    Nhưng uổng thay, một phần vì con người, một phần mệnh nước nổi trôi, càng về sau miền Nam càng bị lún sâu vào thành kiến, đố kỵ, chia rẽ làm cho tan rã 1 cách đáng tiếc !

            Một buổi chiều, tôi vừa đi làm về, chưa kịp thay quần áo - bạn Văn Thanh   đưa anh Võ Đức Diên đến thăm.   Tôi biết tiếng anh Võ Đức Diên , từ ngày anh làm giáo sư dạy ở Trung học THĂNG LONG. Anh là 1 trong vài kiến trúc sư đã cộng tác với nhóm TỰ LỰC VĂN ĐOÀN , đẻ ra phong trào ÁNH SÁNG , tức là làm cách mạng về nơi ăn chôn ở của dân lao động.   Nhóm TỰ LỰC VĂN ĐOÀN  muốn biến những căn nhà tối tăm, u ám, thành những căn nhà khang trang, sáng sủa, có đủ không khí, cho người dân lam lũ, ngày đi làm cực nhọc, tồi về lại phải chui rúc vào nhà hang chuột.

           Những căn nhà mẫu do anh Võ Đức Diên vẽ, trông rất giản dị, sang sủa, lại ít tốn kém.   Một khu nhà kiểu mẫu được cất tại bãi Phúc Xá, ngay bờ sông  Hồng Hà - tuy làm bằng tre nứa , mái lợp lá, trông thật ngăn nắp vệ sinh.   Cuộc cách mạng này không thành, vì thực dân Pháp tìm mọi cách ngăn trở.   Hơn nữa, không có quỹ để thực hiện.   Người dân lao động sống ở ven đô Hànội vẫn phải chui ra, chui vào
 trong những ổ chuột, chả biết đến ngày nào mới thoát !

          Võ Đức Diên , thân xác cồng kềnh, vầng tán rộng, tóc thưa.  Anh có đôi mắt voi, tuy nhỏ, lại vô cùng linh hoạt mỗi khi nhìn ngó vật gì.   Tuy mới gặp lần đầu, qua Văn Thanh, một thuộc cấp của anh ở Nha Kiến Thiết, nhưng anh nói chuyện một cách thân tình, dí dỏm.   Còn Văn Thanh luôn nhắc kỷ niệm thời kháng chiến, với Ban kịch Bình dân học vụ.  Vợ chồng Văn Thanh cũng dinh tê sau tôi  chừng trên 1 năm...  Văn Thanh vô Nam theo phong trào di cư, và có kiến thức chuyên môn kiến trúc, anh xin vào làm việc tại Nha Kiến Thiết, trong khi Võ Đức Diên làm phó giám đốc.   Anh Võ Đức Diên tuy lớn hơn chúng tôi nhiều tuổi- nhưng không bao giờ - trong câu chuyện, anh để tuổi tác làm  cho xa cách.   Võ Đức Diên rất tin vào tướng số- theo lời Văn Thanh nói với tôi -  trước khi làm 1 công việc gì, anh đều phải hỏi ý kiến  thầy Diễn , nhà  tử vi nổi tiếng, và Dương Thái Ban, thầy địa lý.   Lúc nào Võ Đức Diên cũng mặc  sơ mi đen, vì tin vào lời thầy bói Diễn, chỉ trừ khi nào bắt buộc, do lễ nghi, anh mới mặc sơ mi trắng.

             Võ Đức Diên tìm tôi , vì anh đang làm báo XÂY DỰNG, tờ báo có tính cách chuyên môn.   Anh nhờ tôi vẽ bìa, minh họa làm cho tờ báo khởi sắc, chứ không, nó khô khan quá, không ai đọc, trừ các chuyên viên.    Tôi vui vẻ nhận lời giúp.    Từ đó , mỗi tháng, tôi lại thêm 1  khoản tiền để chi dụng.   Võ Đức Diên cũng thích chính trị lắm, nhưng khôn ngoan, vì anh biết rằng dù làm chính trị  trong giai đoạn này, cũng chỉ như mua dây buộc vào người- nên anh làm văn hóa -  với mục đích cải thiện đời sống được phần nào hay phần đó.   Anh rất mê hội họa, văn chương , âm nhạc.   Anh có lòng kính hiền, trọng sĩ.   Dó đó, khi nào có cơ hội giúp anh em được, anh giúp ngay.    Tình nghĩa giữa tôi và anh Võ Đức Diên  cứ dài dài và theo
thời gian, làm cho chúng tôi càng ngày càng gắn bó.   Thỉnh thoảng, anh nhờ tôi vẽ một cái gì đó cho nha Kiến Thiết, thế là anh  lại đứa khoản tiền lớn hơn tôi dự tính.   Anh  thường gọi Văn Thanh, Phạm Duy và tôi là các cậu-   cái chữ  các cậu anh dùng có vẻ  thân mật, chứ không mang ý nghĩa cách biệt về tôn ti, trật tự, do địa vị, tuổi tác tạo ra.

           Dưới chế độ Ngô Đình Diệm, anh (  Võ Đức Diên *) được trọng dụng, chẳng phải do anh nịnh bợ , hoặc phe nhóm nào ủng hộ - mà  do chính tư cách đã tạo cho anh một địa vị được mọi người kính nể- kể cả ông bà  Ngô Đình Nhu.    Sự thực, lúc đó, chúng tôi chẳng hiểu làm sao àm anh thuyết phục được ông Ngô Đình Nhu ,  bác sĩ Trần Kim Tuyến  bằng lòng  cho tiền để ấn hành báo SÁNG DỘI MIỀN NAM . Tờ báo này in tại nhà in KIM LAI , nên rất đẹp.  Võ Đức Diên mời Lê Văn Siêu làm thư ký tòa soạn , trong  khi ấy anh Siêu đang làm cho báo CÁCH MẠNG QUỐC GIA .   Văn Thanh được biệt phái sang tờ báo để trông nom ấn loát; còn tôi, giữ phần minh họa.   Tờ báo in offset, phần bài vở nặng phần giới thiệu  sự trù phú, phát triển ở miền Nam .   Ngoài  Lê văn Siêu, còn có  nhiều nhà văn, nhà thơ khác tiếp tay- như Đinh Hùng, Vũ Bằng, Lê Văn Trương v. v. ...
------------------
*  Năm 1955, , chế  độ Ngô Đình Diệm  truất phế bảo Đạo,  làm Tổng thống , dẹp loạn Cao Đài ( tướng Nguyễn thành Phương), Hòa Hảo ( tướng  Năm  Lửa, Ba Cụt ) ,  Bình Xuyên (  tướng  Bẩy Viễn) - lo củng cố nội bộ,   dùng  báo chí ca tụng Ngô triều.  Chẳng hạn, ông Trần Chánh Thành vừa là bộ trưởng Thông tin, còn là chủ tịch PHONG TRÀO CÔNG CHỨC CÁCH MẠNG QUỐC GIA , dùng một số  nhà văn, nhà báo có tiếng làm công tác văn công, như Lê văn Siêu làm  chủ bút nhật báo  CÁCH MẠNG QUỐC GIA,  kiến trúc sư Võ Đức Diên  làm  chủ nhiệm SÁNG DỘI MIỀN NAM.   Ông Võ Đức   Diên  dùng nhạc sĩ Phạm Duy  làm" cò mồi",   tổ chức quán cà phê NẮNG MỚI , 47 Bùi Viện ( Saigon 1) ,  bán cơm trưa  giá rẻ cho sinh viên,  buổi tối tổ chức ca nhạc, P.D. cho lắp hệ thống âm thanh  nghe lén .  Sau vụ đảo chánh  Ngô Triều 1960 thất bại, kiến trúc sư Diên vẽ  đường hầm bí mật, ngõ thoát từ Dinh Gia Long ( Dinh Độc Lập bị  bom)  ra   Chợ lớn.    Có một dư luận đáng  tin cậy  đồn đoán,   kiến trúc sư Diên hoàn tất sứ mạng  , được cố  vấn chính trị  Tổng thống Diệm, ông  Ngô Đình Nhu mời uống' ly cà phê cuối cùng' giã biệt cuộc đời , cùng một số công nhân  tham dự làm đường hầm đào thoát  cũng bị  mất tích  từ đấy . (TP)
------------------------------ 
          Võ Đức Diên  vừa  là giám đốc Nha Kiến Thiết, vừa là chủ nhiệm báo SÁNG DỘI MIỀN NAM , tòa soạn đặt tại Cư xá  Phú Nhuận- nguyên là cư xá   sang, đẹp   bán  cho công chức cao cấp  *- chữ TP do  Nha  Kiến Thiết thực hiện.    Khi vừa xây cất xong, anh Võ Đức Diên  xin  bộ trưởng   phủ Tổng thống Nguyễn Đình Thuần được phép sử dụng 2 căn liền nhau làm tòa soạn báo.   Vì khi ấy, quyền hành phân phối nhà, do ông Nguyễn Đình Thuần  phụ trách - nói đúng ra - do Đoàn Thêm, công chức cao cấp, tay này có Cử nhân Luật ( thời Tây - TP), Đoàn Thêm chọn ngành hành chính.   Đoàn Thêm học rộng, yêu thơ; ngoài ra  còn đọc sách tìm hiểu về hội họa tây phương ( có xuất bản 1  sách  Tìm hiểu về hội họa - TP )  .   Đoàn Thêm rất mê thơ Đinh Hùng, cuốn thơ ĐƯỜNG VÀO TÌNH SỬ ra đời được, cũng nhờ sự giúp đỡ tích cực của Đoàn Thêm.  Vì có học lại có địa vị cao, nên Đoàn Thêm được nhiều người kính nể.

           Khi tôi hợp tác với Võ Đức Diên , ngay từ số đầu SÁNG DỘI MIỀN NAM  , tôi chưa quen Đoàn Thêm, chỉ được biêt qua người khác.   Nhưng vì SÁNG DỘI MIỀN NAM   in ở Kim Lai ấn quán -  đôi khi tôi phải qua nhà in, cùng Văn Thanh ,để xem phần kỹ thuật, trước khi cho máy chạy- tôi mới có dịp gặp Đoàn Thêm, Lãng Nhân-Phùng Tất Đắc , Phạm Trọng Nhân, cùng nhiều anh em khác thường lui tới nơi đây, để chuyện phiếm cho vui.  []

tạ tỵ

                                                                                                                            ( còn tiếp  phần 17)
( Nxb Thằng Mõ, Jan Jose / USA 1990  -   tr. 200- 208)  

Thứ Hai, 15 tháng 10, 2012

giới thiệu 1 bài thơ của văn sĩ mỹ : walt curtis



                    giới thiệu 1 bài thơ của văn sĩ mỹ : Walt Curtis  
                                                       bài viết : thế phong 


Lời dẫn Một cú điện thoại bàn, số lạ,  vợ tôi chuyển  ;" cứ nghe đi ...  rồi trả lời ".  Vợ tôi  thường  trách , sồ điện thoại lạ hiện  trên đi động, thường là bị tôi cúp. "... Phải nghe mới biết ai gọi, người ta nói gì chứ..."  !  Vợ tôi trách  vậy  , còn  tôi chưa dễ  bỏ thói quen cũ !

              Cô HOA TRẦN cho biết, một  cựu chiến binh Mỹ  từng phục vụ ở Việtnam  1972,  đã gửi  mail  yêu cầu được gặp,  lại  không thấy tôi trả lời .

              ... I am returning to Ho Chi Minh City to film the experience and to find out how the country had changed over the last 40 years . This film is called ' REMEMBRANCE ' and will include footage I shot in 1972  (...)

               " Được, không có gì trở ngại, và  tôi chỉ trả lời  chuyện văn chương ."

             Mở  trang  quảng cáo 365,  báo  Thanh niên  ( 11.10.2012) :

          "   CỰU LÍNH MỸ ĐANG TÌM KIẾM VỊ HÔN THÊ TRƯỚC ĐÂY :  LARRY JOHNSON,  trước đây đóng quân tại trụ sở MACV năm 1972, hiện đang tìm cô TRƯƠNG MỸ LIÊN, hoặc  TRƯƠNG ÁNH LOAN   ( còn gọi  là CANDY) . Ông  JOHNSON, nhà làm phim tư liệu đoạt giải thưởng đang tiến hành thực hiện 1 bộ phim về trải nghiệm của ông tại Việtnam. Ông JOHNSON có vài câu hỏi quan trọng muốn được thảo luận cùng cô LIÊN / cô LOAN .  Nếu bạn tin rằng bạn là vi hôn thê trước đây của ông Johnson, vui lòng liên hệ cô HOA , số ĐT: 0909. 810143.  " 

              ...  vậy là  lại một chuyện tình  eurasian ( đúng hơn: americasian )  lại được Remembrance - ấy là,  nếu Johnson  gặp được người cũ  CANDY .

              Nhà làm phim trao tôi 3 cuốn sách do văn sĩ Mỹ WALT CURTIS gửi tặng :
                             -   MALA NOCHE  ou  Qui déconne avec le taureau se prend la corne -  ( traduit de l'américan  par Daniel Bismuth,   préface de Gus Van Sant  -   Hachette Littératures , 2003 -  Livre de poche,  158 p.)

                                     -    MALA NOCHE  (    bản anh ngữ đã được dựng phim Introduction  by Gus Van Sant to the Story that Inspired his Ist Film .                                                          
                                          (  sách dày 224 tr,  khổ  14, 5 x 22, 5)

                                      -   THE LAND OF CH ' I  / WALT CURTIS
                                         (  tập thơ  dày 52 tr,  khổ  14, 5 x 22, 5 )

              - ... bìa 4 truyện    MALA NOCHE,  có lời bình  văn sĩ  Allen Ginsberg  ( trong  Beat Generation)  : 

 "... I read Mala Noche & liked Walt Curtis  raw account  of street loves & losses, an American story many have lived and more will as our empire disintegrates.    Life' s  disappointing, the kids are tragic,  there are moments of joy  & orgasm in soiled sleepingbags, & moments of bitterness when the immigration cops interrupt acquaintances on the road.  Those who have  no lifelong love will recognize their own hope & ache ."                      ALLAN GINSBERG , January, 1990  

               -... lời  PRÉFACE ( tựa),  Gus Van Sant viết   về cuốn truyện  MALA NOCHE  :

"...  Lorsqu'on demande WALT quelle est la part d'authenticité dans ce livre,   Mala Noche , il rit  doucement  et lâche sur un ton de résignation:
" Tout   était vrai, mec, chaque foutu mot.  Tout ce qui est dans  le livre est vrai ."  ( p. 7) (....)  
               WALT CURTIS est l'une de nos très rares et très nobles autorités en matière de póesie, et je suis fasciné par les extrêmes auxquels touche son récit chaque fois que je le lis.     Le film qui en fut tiré n'en  est qu'un miroir, un miroir embué.   Quand vous lisez MALA NOCHE,  vous buvez  à la source.   Comme si vous éprouviez   la chose au moment où elle arrive, òu  elle vous arrive .                      GUS VAN SANT , page  1 .)

           Lời đầu tiên của tôi, cảm ơn văn sĩ Mỹ WALT CURTIS  ( Oregon / USA)  đã gửi tặng ( và  cảm ơn nhà làm phim tư liệu Larry Johnson cầm về  ).
            Tác giả  ghi  lời tặng:
            " for The Phong No War ! Peace to the world   - Walt Curtis
               ( ký tên ở cuốn thơ
            và trong bản dịch tiếng pháp  :
             " for  The Phong  peace  -  WALT CURTIS " 2012 ". 


            
 trích nguyên tác thơ WALT CURTIS .


     The Laughing Buddha


   For the Chinese " old hemp-bag bum,"
  wandering monk, is the future savior 
  of the world.  He fulfills the hopes
  of every pious Buddhist . Pu- tai
  Ho-Shang, smiling foolishy, with
  bald head and pot belly, is Lord
  Maitreya --- the Buddha Reborn whom
  no one recognizes.   He wanders
  through villages and markets begging
  for pickles, fish, meat which he chomps down on.
  He puts the rest in
  sack on a stick.  Children chase  him
  asking, " What's in your hemp bag, Mister ?"

 He spills the contents on the grounds ---
 alms bowl, clogs, bricks, stones ---
 pick up each item, saying " Look here."
 He asks pointing at it ," What is this ?"
 " What is it about your bag ?" they ask.
  He puts it down on the ground , crosses
 his arms, and remains silent.   The followers
 of Ch' an or Zen  continue with questions :

 Why did the Bodhiharma come from the West
 to China?" He puts his bag on the earth,
 crosses his arms  once again. "  Is that
all there is to it ?" they plead. Pu-tai
shouders  his bag and walks away.   He
wraps shit in leaves and preaches, " This
 is the ground of the inner courtyard of
 Maitreya."  Mi-lo-fo, the Coming Buddha !

The kids run away from the carzy
 master !  All the biographies state
Pu-tai, a resident  of Ssu-ming in the
province of Chekiang, was born in the 10th century.
 When asked how old he was,
 he replied : " My bag here is as old
 as space "  The bellows of the universe,
 the emptiness between heaven and earth .
He claimed his surname was Li, like
Lao Tsu, author of the Tao-te-ching. He
once approached a  monk from behind, tapping
his shoulder, begging " Give me cash!"
The famous  kungan, or koan goes :" If the
truth or tao is found, I will give you money. "
" What are you doing here" all the villagers
and whorshippers begin to scream.. ." I am
 waiting for a man ," he replies." Here he is ."


He takes an orange out  from under his robe,
offers it to the monk who reaches for it.
" You are not that man." Pu-tai withdraws
the orange, preachingh" Give me cash."
So when you walk into a Chinese restaurant
and see a laughing Ho-ti or Pu-tai, fat-
bellied dwarf, with a bald head and
 red face ... realize he is there to
 enlighten you.  Get out your wallet !

                          APR. 5. 04  
                    WALTER CURTIS

----------------
( PAGE 14 - 15   -  ' THE LAND OF CHI 'S ) 

       

                                                
      
            

Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

những khuôn mặt văn nghệ đã đi qua đời tôi - tạ tỵ 15

       NHỮNG KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ ĐÃ ĐI QUA ĐỜI TÔI -  
15

                                       hồi ký văn học : tạ tỵ



             Do sự cổ động, anh em sống ở miền Nam từ trước,  mỗi người múa cuốn MÊ HỒN CA, với giá ủng hộ - muốn trả bao nhiêu, tùy ;  theo tôi được biết, không ai mua dưới giá 50 Vnđ / cuốn.   Do đó, Đinh Hùng có một số tiền để chi phí trong ngày tháng đầu sống tại miền đất mới.

             Còn Vũ Hoàng Chương vô Nam, vời bàn tay trắng, nhưng Chương vẫn sống ung dung, nhờ vào sự trợ giúp của bằng hữu.   Nói đúng,  về đời sống vật chất, cả 2 người, nếu chỉ sống bình thường như mọi người, thi không có ghi để lo lắng, vì giá sinh hoạt ở miền Nam rất rẻ.  Nhưng Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương không chỉ sống bắng cơm, gạo, mà họ còn sống bằng ma túy !  .
             Những rồi tất cả cũng trôi đi, bằng cách này hay cách khác, chỉ biết đời sống cùa thi nhân mỗi ngày mỗi khá hơn, chứ không qúa vất vả như khi còn ở Hànội.

             Một cơ quan ngôn luận hàng ngày chính thức ra đời do người miền bắc di cư điều hành, đó là báo TỰ DO - phong cách trình bày, bài vở tờ báo hoàn toàn cách biệt, khác hẳn với tờ báo đã có ở miền Nam từ trước.   Thoạt đầu, do  nhà báo Tam Lang-Vũ Đình Chí  đứng tên chủ nhiệm, cùng 1 số anh em, như TCHYA, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Như Phong ( tức Tiến mù ,trước làm ở Nha Thông tin Bắc Việt ) , Nguyễn Hoạt , Mặc Thu  và Đinh Hùng.  Phần vẽ tranh châm biếm   do họa sĩ Phạm Tăng phụ trách.   Không ai ngờ Đinh Hùng có thể làm thơ trào phúng hay như vậy ! Bút hiệu Thần ĐăngĐinh Hùng, còn TCHYA chuyên viết phiếm luận. Sau 1  thời gian, vì bận chuyện , nhường mục nay cho Nguyễn Hoạt ( bút hiệu Hiếu Chân).

              Cũng  như ở CHƯƠNG BA, tôi   đã viết; Nguyễn Hoạt, con người thông minh, lại giỏi pháp , hán văn, đọc nhiều, hiểu rộng; nên các bài anh viết trong mục Nói hay đừng  rất sâu sắc. cái lồi dùng văn của Nguyễn Hoạt thật linh dộng, tài tình.   Mỗi vấn đề anh viết, đề cập, khiến người đọc thích thú và kể cả ngươi bị chỉ trích, tuy tức giận đấy, nhưng cảm thấy không bị  hạ nhục !  Lối viết của anh nhằm cải hoá, hơn  là đả kích, vì lòng thù hận hoặc viết cho sướng tay.  Khi viết phiếm luận , Nguyễn Hoạt Hiếu Chân .  Từ ngày vô Nam, ít khi chúng tôi gặp nhau, mỗi người đều có chuyện bận rộn riêng; nhưng không phải vì thế mà nghĩa tình phai lạt.   Thỉnh thoảng, chúng tôi vẫn đi nhậu nhẹt, uống bia ở quán nước ở đầu Ngã 6 để nhắc nhở kỷ niệm cũ.  Đôi khi, Nguyễn Hoạt tới thăm phòng tranh của tôi ở  đường Phan Văn Trị, thì 2 đứa lại có dịp khề khà trước ly rượu mạnh.   Nguyễn Hoạt không am hiểu hội họa bao nhiêu, sở  trường của anh chỉ  ở phạm vi văn chương thuần túy.  Còn Đinh Hùng, sau 1 thời gian làm thơ trào phúng cũng lại bỏ ngang, nhường mục Đàn ngang cung cho Hà Thượng Nhân

              Đời sống của Đinh Hùng đã khác nhiều, so với khi còn ở Hànội, ngoài vấn đề làm thơ - anh còn viết truyện dã sử, ký bút hiệu Hoài Điệp Thứ Lang.  Đinh Hùng viết hấp dẫn lắm,  đối tượng độc già  chỉ ớ cấp trung lưu.    Điều này tôi biết rõ, Đinh Hùng viết lách, cũng như giữ chức trưởng ban TAO ĐÀN  của Đài phát thanh Sài Gòn, chỉ nhằm mục đích phụ giúp đời sống cá nhân, gia đình anh đỡ thiếu thốn, chứ không vì vấn đề nổi tiếng.   Ví dụ,  Đinh Hùng có làm gì đi nữa, thì không bao giờ vượt qua được cái mốc mà Đinh  Hùng tạo ra từ thập niên 40.

             Tôi nhớ dưới chế độ Ngô Đình Diệm có chiến dịch cấm tứ đổ tường...   Trong thời gian này, Đinh Hùng ở trên 1 căn gác nhỏ thuộc vùng Phú Nhuận . Căn gác có cầu thang riêng, chiếc cửa sắt luôn khóa bằng sợi dây xích to, ai muốn đến thăm, phải lắc dây xích đúng mật hiệu - chị Hùng mới xuống mở cửa ; còn không, khách cứ đứng chờ cũng chỉ toi công.   Đôi lúc nhớ nhau, cũng chỉ lại nhớ đến không khí ngày xưa, tôi đến thăm Đinh Hùng vài lần, cũng lắc mạnh dây xích .   Có tiếng chân người   nhè nhẹ xuống thang, đó là chị Hùng,  bây giờ da sắc hồng hào, cổ tay đeo xuyến vàng óng ánh.   Thấy tôi, chị mỉm cười, nụ cười buồn muôn thuở; có lẽ cái số của chị lận đận, chỉ vị nụ cười ấy chăng ?
              Lách mình qua cánh cửa sắt,  xong, chị khoá ngay lại.   Tôi leo từng bước lên cầu thang nhỏ, hẹp.  Chị Hùng theo sau, nói:
             - Anh Hùng ở trong phòng.  Anh mở cửa vào tự nhiên.
              Vặn vào nắm cửa, đã ngửi thấy mùi nha phiến tỏa thơm ngào ngạt.  Đinh Hùng đang nằm nghiêng trên đi-văng.  Ngọn đèn dầu lạc, anh lửa xanh lòe, tưa hồ ánh sáng đom đóm.  Tất cả mọi cửa sổ đều đóng kín, có treo nhiều bó tỏi khô.    Có lẽ đó là cách hạn chế khói nha phiến tỏa ra ngoài chăng, chung qui chỉ ngại có người ngửi thấy , rồi  báo cảnh sát .    Đinh Hùng bảo tôi:
             - Ngồi chơi toa .
              Nếu là ai khác, chắc Đinh Hùng đã nói : " nằm xuống đi".
              Căn phòng tối như bưng , chỉ có chỗ nằm Đinh Hùng là sáng sáng đôi chút.  Chung quanh , sách vở ngổn ngang, bày la liệt .  Quần áo vứt bừa bãi, đó đây mỗi chỗ một cái.   Nhưng nếu xuống phố, thì Đinh Hùng ăn mặc chảu chuốt, chỉnh tề,  tóc thoa dầu bóng, chảu hất về phía sau, dài lấp gáy.   tay luôn luôn ôm chiếc cặp da, trong đó đầy bản thảo thơ  chương trỉnh thi ca TAO ĐÀN.   Ngoài Đinh Hùng , trưởng ban,  người chuyên giới thiệu chương trình qua tiếng nói đầu tiên, ban TAO ĐÀN  còn có các giọng ngâm Hồ Điệp, Hoàng Thư, Nguyễn Thanh, Tô Kiều Ngân, Thái HằngNguyễn Đình Toàn phụ giúp.   Công bằng àm nói, về phía nữ, Hồ Điệp có giọng ngâm truyền cảm nhất, - giọng nam có Nguyễn Thanh, Nguyễn Đình Toàn.

              Hồ Điệp xuất thân từ xóm cầm ca, có giọng ngâm tốt đã đành rồi, với Hồ Điệp chuyên hát ca trù, thì ngâm thơ coi như quá dễ !   Thường thường do Tô Kiều Ngân đệm sáo...    Hồ Điệp có giọng ngâm hạt, tức tiếng ngân rung trong cuống họng và  lấy hơi từ bụng đưa lên, chư không ở cổ hoặc mũi.   Giọng ngâm thơ Hồ Điệp vừa ấm,  hơi lại mạnh; do vậy, âm thanh thoát ra khỏi môi, như có cánh bướm lượn chập chờn, ru người yêu thơ vào cõi huyền hoặc, bao la.   Thái Hằng ngâm thơ cũng được lắm,  nhưng chỉ giúp cho TAO ĐÀN một thời gian thôi.   Có lẽ Thái Hằng thích hát hơn, vả lại Ban hợp ca Thăng Long và các ban khác ở đài phát thanh  đã làm Thái Hằng mệt nhoài rồi !   Những năm về sau, giọng nữ có ca sĩ Hoàng Oanh, ngâm thơ khá hay !   Nhiều người yêu tiếng ngâm Hoàng Oanh hơn cả Hồ Điệp, vì Hồ Điệp nhà nghề quá, còn Hoàng Oanh với tiếng ngâm vẫn giữ nguyên giọng học trò.

               Trong khi đời sống của Đinh Hùng mỗi ngày rạng rỡ, thì Vũ Hòang Chương cũng có vươn lên.   Chương ngoài tài làm thơ, không còn tài nào khác- hơn nưã - tính tình Chương không thích xông xáo như Đinh Hùng.  Con đường duy nhất  để đời sống gia đình Chương đứng vững được, nhờ Chương chấp nhận dạy học tại vài trường tư thục.   Thêm vào đấy, còn được 1 số bạn có lòng yêu thi ca trợ giúp nữa.   Có 1 dạo, anh em đồn Chương trúng số độc đắc 1 trriệu đồng.  Tôi không hiểu chuyện này có thực không và chẳng bao giờ nỡ hỏi thẳng Chương  cả.  Chỉ biết Vũ Hoàng Chương đã mua được căn nhà , ở gần bến Chương Dương,  tranh, bàn ghế mới bầy nơi phòng khách.   Vợ chồng Chương hiếm muộn, xin 1 trẻ từ nhà thương TỪ DŨ về làm dưỡng tử, nuôi nấng , thương yêu như con đẻ.   Gia đình chương sống hạnh phúc cùng tiếng trẻ thơ cười nói bi bô, không vắng lặng như xưa.

              Tôi đến thăm Chương tại căn  nhà đó, ở cuối ngõ,  đi ngang qua nhà Bình Nguyên Lộc độ vài căn.   Nàng Oanh có vẻ phong lưu, dáng điệu ung dung, nhàn hạ, sắc mặt hồng hào, không tái mét như xưa .  Mừng cho đời sống của Chương tới vận khá,  chẳng lẽ Trời đóng cửa mãi sao ?   Còn cái may nữa, vào miền Nam, thơ Vũ Hoàng Chương được nhà xuất bản Phạm Văn Tươi ấn hảnh vào cuối 1974, tập RỪNG PHJONG, gồm những bài thơ Chương làm từ hồi kháng chiến, cho tới  khi về Hànội vài năm sau này, trước khi đất nước bị chia 2.   Vô Nam, đời sống gia đình Chương chẳng những khá, thơ xuất bản nhiều hơn, nhiều tập  được dịch qua pháp ,đức, anh  ngữ phổ biến khắp toàn cầu.

             Nhưng không phải in được nhiều, mà thơ hay, theo ý riêng tôi, không tập thơ nào của Chương vượt qua được tập MÂY cả. Nói vậy, không có nghĩa, thơ VHChương lùi đi, hoặc, nguồn thi ca cạn kiệt!   Không phải vậy, thơ Chương bài nào cũng hay,nếu không hay đi nữa, chặng đến nỗi  tệ, trước trào lưu  tiến hoá , cái gì cũng phải biến đổi- trong khi ấy, có tài năng khác, làm thơ với chiều hướng khác, tư tưởng, ngôn ngữ thi ca cũng đổi khác- trong khi thơ Chương ( chẳng lẽ cứ đứng hoái chỗ ) - tuy vẫn là thơ VHC thật , nhưng hiệu lực không còn như thập niên 60 nữa !  ...

             Sau vài năm, sống gần nhà nhà văn Bình Nguyên Lộc, Vũ Hòang Chương bán nhà, dọn lên phố Bàn Cờ, gần đường Phan Đình Phùng.   Khi tôi viết MƯỜI KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ, trong đó có Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương, tôi đến đây lấy thủ bút, chữ ký của Chương để in vào sách ( 1970).    Năm 1970, Đinh Hùng đã qua đời được 3 năm,  tôi đành dùng di bút, chữ ký Đinh Hùng do bạn Văn Thanh cung cấp.
               Đinh Hùng mất vào ngày 24 tháng 6 năm 1967, thọ 47 tuổi, tại  bệnh viện BÌNH DÂN.  Trước khi Hùng mất, tôi lại thăm, Hùng bị nhiều bệnh lắm; nhưng gan là nặng hơn cả.  Tôi không ngờ lần thăm đó là lần chót mà  chúng tôi được  nhìn thấy nhau.  Khi được tin Hùng mất,  tôi vào nhà xác nhìn hùng lần cuối.   Tôi mở tấm vải che mặt, Hùng nhứ đứa trẻ lên 10, buổi sinh thời, vóc dáng Hùng đã nhỏ bé - sau nhiều ngày bệnh tật thấn xác Hùng gầy còm, co rúm lại.   Đinh Hùng mất đi, để lại  vợ và 1 đứa con trai duy nhất, Hoài Ngọc.   Đám tang Hùng được tổ chức rất trọng thể, chôn cất tại Nghĩa trang MẠC ĐĨNH CHI- cũng phải  nói thật- nhờ tướng Nguyễn Bảo Trị khi ấy là tổng trưởng bộ Thông tin  quí mến văn nghệ sĩ, giúp đỡ tiền bạc, kể cả nơi chôn cất đẹp  nhất dành cho  các vị công hầu, vương tước.

                   Đinh Hùng mất đi, để lại 3 tác phẩm:
                - MÊ HỒN CA  ( thơ, Nxb Tiếng Phương Đông  , Hànội 1954)
                - ĐƯỜNG VÀO TÌNH SỬ  ( thơ, Nxb Nam Chi Tùng Thư, Saigon 1961)
                - NGÀY ĐÓ CÓ EM (  bút ký, Nxb Giao Điểm, Saigon 1967 ).*
-------
còn 1vài tác phẩm khác, như   ĐỐT LÒ HƯƠNG CŨ ( hồi ký văn học ) , do Nhân sinh xb ở  Sàigon ( 1970?)   (TP) .
--------

       Còn truyện KỲ NỮ GÒ ÔN KHÂU  ký Hoài Điệp Thứ Lang, hoặc thơ trào phúng ký THẦN ĐĂNG - Đinh Hùng chỉ coi như  một cách kiềm kế sinh nhai, chứ không phải cho  văn chương, nghệ thuật, nên gần nhu tác giả tự ý chối bỏ.
 
            Cuộc đời  ĐINH HÙNG không có may mắn, được đi đây đó như Vũ Hoàng Chương.  Từ lúc lọt lòng cho tới khi nhắm mắt, Hùng chỉ sống quanh quẩn  từ bắc vô nam, ngay cả miền trung, với cảnh trí thơ nmộng, sông Hương, núi Ngự- Đinh Hùng chưa lần đặt chân tới.  Vũ Hoàng Chương may mắn hơn nhiều, xuất ngoại đôi ba lần, đã biết ngoài Việtnam, còn bao thứ lạ do nền văn minh tạo nên, cùng cảnh đẹo thiên nhiên mà tạo hoá dành cho mỗi dân tộc- bởi VHChương có 1 thời gian làm  chủ tịch  PEN CLUB VIÊTNAM, Chương được mời đi tham dự các cuộc họp Văn Bút quốc tế.   Trong những ngày xuất ngạoi như vậy, Chương được biết cảnh lạ quê người, do số tiền trợ cấp của Hội văn bút, nhưng Chương cũng phải nuốt thuốc phiện, hoặc tẩm thuốc phiện vào thuốc lá để hút; vì Chương không uống được rượu như Đinh Hùng.  
             Trong tất  cả các khuôn mặt văn nghệ mà tôi quen biết, suốt 1 chiều dài đời sống nghệ thuật, chỉ có 2 người không biết uồng rượu - đó là Vũ Hoàng ChươngPhạm Duy.   Chẳng những thế, Phạm Duy còn không biết cả hút thuốc lá, đánh bạc, ấy là ngoài vấn đề đàn bà.   Còn về các bà vợ nghệ sĩ, chịu đựng được gian khổ, chịu đựng được những cố tật của chồng, lại không hề mở miệng than van; tuy buồn khổ thật đấy- tuy nuốt giọt lệ âm thầm  chày vào trong lồng ngực - nhưng không bao giờ có ý ruồng rẫy, trách móc chồng- đó là nàng  THỤC OANH , vợ VŨ HOÀNG CHƯƠNG ,và THÁI HẰNG, vợ PHẠM DUY - TÔI GỌI ĐÓ LÀ HAI VỊ NỮ THÁNH !  
            Nhưng tôi  vẫn tin rằng, còn nhiều bậc nữ lưu khác, cũng kính trọng chồng như vậy, vì tôi chưa biết đó mà  thôi, nên  chưa  thể viết ra !
            Cuộc sống ở miền Nam trong vài năm đầu, dưới quyền cai trị  chính phủ Ngô Đình Diệm, luôn luôn bị xáo trộn, bởi tình hình chính trị.   Nào quâu đội Pháp  rút khỏi Việtnam, nào truất phế Bảo Đại, nào  gây 1 phong trào chống Cộng   trong dân chúng, cũng như cơ quan chính quyền, nào vấn đề giáo  phái.    v. v...

              Trong lúc rảnh rỗi, tôi thường ghé thăm tòa soạn  Đời Mới, nói chuyện với Hoàng Trọng Miên  và Hồ Hán Sơn- còn Trần văn Ân ít khi gặp - thản, hoặc, nếu có gặp chỉ trao đổi dăm ba câu  xã giao.

              Hồ Hán Sơn, người mập mạp, lùn, nói giọng Nghệ An rất khó nghe, chưa vợ con.   Anh chuyên viêt chính trị, chứ không văn học, nhưng do vậy mà anh không thích văn chương.   Mỗi lần tôi sang chơi, dủ đang viết bài, cũng bỏ đó ra ngồi tán dóc.   Nói loanh quanh thế nào đi nữa,  Sơn cũng lôi chuyện về  chính trị .   Hồ  Hán Sơn không thích chế độ Diệm, lúc ấy, mới quen, nên tôi không biết Sơn hoạt động cho đảng phái nào- chỉ biết ít lâu sau - anh bị thủ tiêu , xác anh nằm dưới giếng cạn thuộc miệt Hậu Giang.  Tôi biết, do Hoàng Trọng Miên nói lại *
---------
*  Hồ  Hán Sơn, đại tá  quân đội Cao Đài , dưới trướng  tướng Nguyễn Thành Phương.  Chủ nhiệm tuần báo Việt Chính  ( Saigon 1955), tác giả bài thơ HẸN HÒ  ( ký Trần Hồng Nam) Phạm Duy phổ nhạc.   Bị  tướng Phương Cao Đài thủ tiêu, ném  xác xuông một giếng cạn,  tại trại quân  đội Cao Đài ở  Bến Kéo ( Tây Ninh), vì nghi làm phản Cao Đài,   ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm..  (TP). 
----------------   
                Hoàng  Trọng Miên cũng không ưa chế độ  Ngô Đình Diệm, nhưng anh rất khôn khéo, không để lộ ra lời nói, hoặc hành động.   Qua nhiều lần nói chuyện, tôi đoán biết anh có khuynh hướng xã hội, dân chủ.   Hoàng Trọng Miên là bạn  thân Lưu Trọng Lư, Bích Khê, Hàn Mặc Tử.   Anh làm báo chuyên nghiệp như Lê Tràng Kiều vậy.   Nhưng cái số Hoàng Trọng Miên cũng chẳng may mắn gì hơn  Lê tràng Kiều cả.  
            Tòa soạn Đời Mới có thêm một nhân tài nữa, NGUYỄN ĐỨC QUỲNH.  Anh Quỳnh chăm làm việc lắm.  Anh viết được rất nhiều địa hạt khác nhau, kỳ nhiều bút hiệu.  Khi Nguyễn Đức Quỳnh làm việc, người ta chỉ  nhìn thấy chiếc trán thôi.   Truyện của anh viết đều có chủ đề, năng về chính trị hơn văn chương.   PHẠM DUY rất cảm phục Nguyễn Đức Quỳnh, họ quen nhau từ Khu 4 Thanh Hóa.   Nguyễn  Đức Quỳnh ăn nói rất hoạt bát, lý luận sắc bén không thua gì TRƯƠNG TỬU... Nhờ vào sự đọc sách lại chịu nghiên cứu, nên tầm hiểu biết của anh rất rộng.   Mỗi lần gặp tôi ở tòa soạn, anh thường nói đùa:
              - Cậu đeo nhiều tài vào  người chỉ khổ thân, có vui thích gì đâu ?   Tôi như cậu , đem bán hoặc cho bớt đi, bớt gánh nặng !  cậu càng đeo đuổi nhiều, đời sống sẽ ngắn đi; vì lúc nào đầu óc cũng nặng trĩu công việc, cậu nghĩ sao ?
             Nói xong, anh nheo mắt nhìn tôi, cười cười, như trêu chọc.  Tôi trả lời nhỏ nhẹ:
             - Trời đầy đó anh ạ !
             Nguyễn Đức Quỳnh có đầu óc lãnh tụ , anh luôn luôn chứng tỏ khả năng của mình, chẳng những bằng lời nói, mà còn bằng việc làm.   Anh thường cho rằng, những người làm văn học nghệ thuật chỉ để thõa mãn những mơ ước trong đầu, nhất là mong nổi tiếng- mà họ quên khuấy đi cái sứ mệnh thiêng liêng của văn nghệ là phải phục vụ cho đời sống và làm  cho đời sống mỗi ngày tốt đẹp hơn.    Chính vì Nguyễn Đức Quỳnh quan niệm 1 cách rõ ràng như vậy, nên, mấy năm sau, anh mở   Đàm trường viễn kiến tại chỗ anh ở - để mạn đàm viễn kiến, tức là vừa nói chuyện  vừa tranh luận về tương lai của nền văn nghệ Việtnam.  Có nhiều nhà văn trẻ thường đến tham dự, trong đó có Thế Phong, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ ...  Tôi không đến đó  bao giờ, chỉ được nghe vài người nói lại thôi.   Nhưng sự thực,  cái nghề văn nghệ, có ai dạy được ai bao giờ ?

             Một buổi tối,  đang làm việc, bỗng, Hoàng Trọng Miên gọi  điện thoại mối tôi lại nhà chơi vào buổi tối.   Tôi không tiện hỏi chuyện gì, vì lúc ấ ycó nhiều người đứng gần.   Tôi chỉ nói, bằng lòng với giờ giấc mà anh hẹn.
 
              Tối hôm đó,  sau khi cơm nước xong, tôi đến nhà Hoàng Trọng Miên,  trong con ngõ hẻm gần nhà thờ Huyện Sỹ.  Đời sống của Hoàng Trọng Miên cũng thanh bạch lắm.  Một căn nhà vách ván, không có cửa sổ, nhưng phía trên đóng bằng gỗ đan mắt cáo cho thông hơi.   Hoàng Trọng Miên có đạo Thiên chúa, tôi thấy ngay bức vách gần chỗ tiếp khách, chiếc bàn thờ  treo ảnh ĐỨC MẸ MARIA , đèn, nến lỉnh kỉnh bấy biện trang trọng.   Thấy tôi, Miên, từ sau tấm màn vải hoa đã bạc mầu, bước ra, với nụ cười như thường lệ.   Vầng trán của Hoàng Trọng Miên cũng cao lắm, nhưng nó gồ ra, chứ không thẳng như trán Nguyễn Đức Quỳnh.  Chị Miên, một tya bồng đứa con chùng mấy tháng, một tay bưng khay  nước nhỏ.    Chị Miên, người cao ráo, trắng trẻo, khuôn mặt có vài nét phảng phất tây phương.   Ngoài đứa bé bồng trên tay, còn mấy thằng nhỏ, chạy ra, chạy vô.    Tôi biết Hoàng Trọng Miên cũng hơi đông con.   Sau khi hớp xong hụm trà, Miên cho biết ông ALPHANA  KIM THỊNH , chủ tiệm kim hoàn ở đường Catinat, có ý định  xuất bản 1 tờ tuần báo NGUỒN SỐNG MỚI.  Ông Alphana tuy đứng tên chủ nhiệm,  vì là người bỏ tiền, nhưng  anh Miên đứng tên chủ bút, anh Sương, quản lý .  Đường lối tờ báo hoàn toàn văn nghệ, không dính líu tới chính trị, anh em ai muốn viêt gì cũng được; miễn chịu trách nhiệm về bài của mình.   Hoàng Trọng Miên có ý định mời tôi cộng tác, vừa viết bài, vừa minh họa báo, trả lương khoảng 2000 đồng / tháng.   Quả thức, đây là cơ may gia đình tôi,  vì chúng tôi mới mua được 1 căn nhà ở  Hẻm số 4, còn thiếu nợ 8000 đồng, chưa biết lấy gì thanh toán cho chủ nhà - tuy chủ có nhã ý cho góp dần hàng tháng.   Tôi nhận lời ngay, Hoàng Trọng Miên cũng vui vẻ, đưa cho tôi đề mục tờ báo đễ vẽ vignette.   Sự thực, công việc  cũng không mấy vất vả- phần chính- tôi minh  họa các truyện ngắn, còn bài có cũng được, không chẳng sao !  Nói chung , báo Nguồn Sống Mới, nội dung đứng đắn  , trình bày trang nhã, nhưng chẳng hiểu sao báo bán không chạy.   Do vậy, lỗ quá lớn, dù cho ông Alphana Kim Thịnh là chủ tiệm bán kim cương, giàu vậy, cũng không kham nồi !    Sau 16 số ra đời, tờ báo ngưng .  Nhờ 4 tháng làm cho báo Nguồn Sống Mới, tôi có tiền trả nợ hết căn nhà.   Vợ tôi mừng húm !

             Trở lại  công việc sở, Phòng báo chí mới thâu nhận thêm 1 trung úy  từ  Bảo chính đoàn  chuyển qua- đó là nhà văn ĐỖ TỐN - tác giả HOA VÔNG VANG , tập truyên do nhà xuất bản ĐỜI NAY  của nhóm Tự Lực văn đoàn ấn hành.   Tôi biết Đỗ Tốn từ ngày còn ở Hànội.   Anh là con 1 điền chủ có trang trại rất lớn ở miền trung du Bắc Việt.   Trong mỗi dịp hè, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ v. v. ... thường lên trang trại  nghỉ mát, săn bắn, hoặc hoạt động chính trị với những người anh của Đỗ Tốn.   Do vậy, dù Đỗ Tốn còn trẻ, chưa có tên tuổi trên văn đàn bao nhiêu, cũng được nhà xuất bản  Đời Nay đặc biệt chú ý.
             Hình như cả gia đình  Đỗ  Tốn  đều hoạt động cách mạng , theo Nhất Linh- do vậy- khi Việt Minh lên nắm chính quyền, mọi người đều lánh qua Trung hoa để hoạt động, trong đó có cả Đỗ Tốn.

              Đỗ Tốn có gương mặt trí thức , với bộ râu quai nón, lúc nào râu cũng mọc lởm chởm, chạy òng theo khuôn mặt, trông thật nghệ sĩ !   Vóc dáng tầm thước, mảnh mai, ăn nói dịu dàng, mực thước - luôn luôn kèm theo nụ cười , nửa thân mật, nửa kiêu bạc.  Vốn con nhà giàu, nên anh tiều xài rất sang.   Khi nào gặp, anh cũng lôi vào quán rượu  TAVERNE ROYALE  ở góc phố  Tràng Tiền *  tuống, bất kể đắt rẻ.
------
* đúng ra nằm trên đại lộ  Đinh Tiên Hoàng( nhìn ra Hồ Gươm )  phải đi 1 quãng nữa mới tới ngã tư Tràng Tiền . (TP).
---------- 
               Đỗ Tốn  thường cỡi mô-tô , coi có vẻ 1 thể tháo gia, tuy mới 30 nhưng lúc đó anh đã nghiện thuốc phiện.   Vấn đề này, ít người biết, chứ không như trường hợp Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Vũ Bằng.   Sở dĩ tôi biết Đỗ Tốn cặp kè nàng tiên nâu do họa sĩ Hoàng Lập Ngôn tiết lộ.  Hoàng Lập Ngôn biết rõ việc này, vì quen thân Đỗ Tốn , có đôi lần, cùng nằm chúng bàn đèn chung vui !   Hoàng Lập Ngôn chỉ hút chơi thôi, như Nguyễn Đức Nùng, Thiếu Lang, chứ không bị Ả Phù Dung quyần rũ, rồi bị trói chặt như nhiều anh em nghệ sĩ khác.
 
             Cũng vì sự quen biết từ trrước, nên sự có mặt của Đỗ Tốn trong Phòng 5, coi như không có gì đổi khác.   Lê Đình Thạch hàng ngày vẫn ngồi nhổ râu, nhìn anh em làm việc.   Đỗ Tốn thayThẩm Thệ Hà  được giải ngũ,  Đỗ Tốn trông coi bài vở báo TIỀN PHONG, báo dành riêng sĩ quan.   ĐỗTốn có mặt  ở miền nam sau Hiệp định Genève, nhưng phải 1 năm sau anh mới chuyển về Phòng  5 .

             Trong những tháng đầu, Đỗ Tốn làm việc bình thường như các sĩ quan khác, nhưng khi rảnh rỗi, anh thường to nhỏ với Lê Đình Thạch về vấn đề đánh bạc làm sao cho khỏi thua ?   Đỗ Tốn, ngoài nghiện hút, còn mê bài bạc cái mê này chẳng thua gì thuốc phiện !

            Một buổi, không hiểu sao,  Đỗ Tốn đem chuyện đánh bạc ở Kim Chung ra nói cho mọi người cùng nghe , nếu muốn ăn to thì khó- chứ kiếm và chục ngàn/ ngày chẳng khó khăn gì ?  Nói xong, anh giải thích cách đánh theo lối tính xác xuất rất khoa học, làm mọi người phải thừa nhận có lý.   Tuy biết ậy, nhưng chẳng ai chịu góp tiền  nhờ anh đánh giùm cả, dù anh nói có bảo đảm -  ai đưa 100 đồng chiều nay, sáng mai sẽ  anh sẽ đưa lại 120 - như vậy lời 20 đồng  trông thấy.   Hầu như ngày nào anh cũng đề cập chuyện này, và cho biết, một tháng, anh kiếm thêm  từ 600 đến 1000 đồng ngon lành !    Mưa dầm lâu cũng lụt, anh nói mãi,  chứng minh bằng mọi cách; anh em siêu lòng- góp mỗi người 100 đồng- trong đó có tôi -  và quả thức sáng hôm dau anh đưa lại  120 đồng.    Chừng mấy hôm sau, thấy sự đưa  tiền  đi, lấy tiền lại thật bất tiện - anh em đề nghị tiền vốn anh cứ giùm, chỉ đưa tiền lời thôi.    Sau này, câu chuyện đánh bạc chẳng còn kéo dài được bao lâu, một tuần sau- Đỗ Tốn đến sở với nét mặt buồn bã- cho biết,  đã thua cả vốn lẫn lời !   Anh còn ai muốn gỡ vốn, lại đưa tiếp 100 đồng, bảo đảm trong 1 tuần sẽ trả lại 200 đồng- anh thuyết phục bằng mọi cách,nhưng  chẳng ai  đưa tiền nữa.
 
            Riêng Lê Đình Thạch  nợ chồng chất chuyện cờ bạc thua. Đỗ Tốn, một nhà văn, tuy không nhiều hơn 1  tác phẩm, anh viết rất vũng.   Tác phẩm HOA VÔNG VANG  đến nay vẫn được nhiều người nhắc nhở.  Anh chịu ảnh hưởng lối viết của Thạch Lam.

           Đỗ Tốn đã mất  tại Saigon trên 20 năm,  chôn cất tại Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi,  đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng, phần đông vẫn là  văn nghệ sĩ quen biết.   Nay nghĩa trang này đã bị san bằng để xây dựng một công viên lớn , chẳng biết hài cốt của  Đinh Hùng, Đỗ Tốn và nhiều người khác được chuyển tới nơi nào ?
           Còn  Lê Đình Thạch sau 6 năm học tập cải tạo, sống thiếu thồn, rồi qua đời ở Saigon vào 1987. []

                                                                                                              ( còn tiếp theo, kỳ 16 )
 tạ tỵ

( Nxb  THẰNG MÕ,   San José USA - tr.   178  -   200 )
    

Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

cao thoại châu : làm thơ được như anh...

những trang khép mở / trần áng sơn -
tập 3 giới thiệu  cao thoại châu

                                                       cao thoại châu:
                   "...  làm thơ được như anh không nhiều lắm ...!" *
                                    bài viết : trần áng sơn


- thơ cao thoại châu  đích thực là thơ ...làm được như anh, tôi
( trần áng sơn )  nghĩ, không nhiều lắm ..."


      ... Anh có thơ đăng trên các tạp chí, văn học nghệ thuật ở Sài Gòn từ đầu thập niên 60. .. Nghe  bạn bè nói, anh vừa làm thơ vừa làm nông dân.  Tôi chợt nhớ đến một  ca khúc nông ca mà nhiều người thuộc:
" ..Tía em hừng đông đi cày bừa / má em hừng đông đi cày bừa "* *,   nếu được thế, làm thơ trên luống cày,  cũng đáng gọi  là biết sống...
         
           Tôi gặp Cao Thoại Châu trong 1 quán cà phê ở đường Bà Lê Chân Tân Định, trong số lần ít ỏi   anh bỏ rẫy về thành phố... Tập thơ Bản thảo một đời đến với tôi trong trường hợp ấy.
---------------------------
*   tựa do  TP đặt-   tựa  chính, bàitác giả đặt " Cao Thoại Châu" bản thảo 1 đời".
**  ca khúc của nhạc sĩ  Văn Lương ? (TP  )
-----------------------------             
             .(... )  Huy Tưởng   bình: ".. thơ  Cao Thoại Châu rất đáng đọc !" Tôi sẽ nói thêm  về những cái đáng đọc trongt hơ Cao Thoại Châu, những cái anh không cố bày biện như 1 số người làm thơ khác, từ quần áo, giày dép, mũ nón, râu ria, đều chứng tỏ ta đây làm thơ .Khái  quát ,thơ Cao Thoại Châu có vấn đề, na ná như tiểu thuyết có  chủ đề.  Cái nhìn về thơ Cao Thoại Châu không đơn điệu, vì thế không phải tình cờ, chỉ riêng 4 câu trong bản thảo một đời đã nói lên  bản sắc thơ Cao Thoại Châu:

                                     Giã từ  mặt nước về trên cạn
                                     Nằm trên đống đá ngủ vô tư
                                     Thương kẻ đi trong mùa biển lặng
                                     Chẳng nghe được con sóng vỗ xô bờ .

           Những  cái nghịch lý làm nên bản sắc Cao Thoại Châu, đó là ưu điểm, và anh thường xuyên sử dụng ưu điểm này, không máy móc, mà hồn nhiên :

                                    Chào những người tạm trú trong tôi
                                    Những  giày dép áo quần đã mặc
                                    Những phi trường bến xe bến bắc 
                                               ...
                                    Những con đường đã đi những ngôi nhà đã sống
                                    Những kỷ niệm buồn đã gánh trên vai 
                                         CHÀO TUỔI 50 / BẢN THẢO MỘT ĐỜI 

            Chúng ta   không thể tìm thấy trong thơ Cao Thoại Châu những hình ảnh phơi phới, những cảm xúc chân tơ.   Thế giới thơ Cao Thoại Châu là thế giới khắc khoải, bao phủ lên toàn bộ thơ anh, màu sắc  của hổ phách, của tà huy .  Anh làm thơ về tình yêu  đã qua, đã cũ, đã là ký ức :

                                  Sẽ  không đưa em  qua bến đò
                                  Sông nước có mấy khi đúng hẹn
                                  Cơn rét dữ mùa đông ập đến
                                  Lạnh cả hai người đi và tiễn
                                                 ...
                                 Nửa  đoàn tàu chuyển bánh theo em
                                 Để lại khói trong lòng  kẻ ở
                                 Chiều một mình đạp xe xuống phố
                                 Thấy một người mất nửa chân dung
                                 Sẽ có thể không nhiều u ám
                                 Nhờ nỗi buồn rực sáng trong anh
                                 Để chiều về xây ấm hoàng hôn 
                                 Đợi chiếc bóng của ngày sập xuống
                                     NHƯ CÓ MỘT VÉ TÀU / CAO THOẠI CHÂU

            Thế giới chung quanh Cao Thoại Châu đượm màu ảm đạm, nhưng chưa bao giờ tuyệt vọng.  Thơ anh là 1 chuổi dài hồi ức, vế gia đình, về tinh yêu, về bạn hữu, về những người đi trước: NgôTất Tố, Tản Đà, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng :

                                  Tôi hiểu vìa sao cụ thành nhà văn
                                  Quẳng bút lông đi viết" Tắt đèn"
                                  Đèn tắt rồi đêm trở nên đen
                                  Nhìn rất rõ bên kia bờ cuộc sống
                                               ...
                                   Và Tản Đà, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng
                                   Ngày sinh  tôi các cụ mới lìa đời
                                   Nhà văn ốm hơn bề  dày tác phẩm
                                               ...
                                   Đèn tắty đêm nay đọc lại"  Tắt đèn "
                                   Cám ơn cụ, nhà  văn Ngô  Tất Tố .
                                        CÁM ƠN NHÀ  VĂN NGÔ TẤT TỐ /
                                                                                   CAO THOẠI CHÂU

           Trong  văn chương Việtnam, có không ít cuộc đời bất đắc chí, rút về ở ẩn, họ bị thời cuộc xô đầy, định mệnh xô đẩy.   Kẻ sĩ thấu được lẽ huyền vi, thế sự - đối với họ, như cuộc cờ, xe mã biến thành tốt đen, con tốt sang sông biến thành dũng sĩ.   Tâm loạn đời sẽ tiêu vong.   Đó là chuyện xưa.

           Cao Thoại Châu làm nông dân cũng là điều bất đắc dĩ.   Nhưnhà văn , nhà báo  Lê Xuyên bán  thuốc lá lẻ bên chợ Nguyễn Tri Phương, nhà báo  Lý Phật Sơn đêm đêm đạp xe xích lô đưa đón Thẩm Thúy Hằng đi diễn,  như nhà văn Kiêm Minh lên Bưu điện Saigon đi viết đơn thuê,  như thi sĩ  Hoàng trúc Ly làm bảo vệ,  thi sĩ   Trần Dzạ Lữ trông xe đạp ở chợ , họa sĩ  Nghiêu Đề chở xe thồ đi bán nước tương chấm . v. v,...
            Cao Thoại Châu vốn là nhà giáo, có cái nhìn thị phạm, thơ anh cũng vậy, mảng sắc tróc màu sơn ra từ tâm hồn anh để thành thơ . Không thể có chuyện tình cờ, không hề có chuyện được gọi là ngẫu hứng, tất cả  đều trải qua 1 quá trình chuyễn hóa trước khi thành thơ. Do đó, ta không thể tìm thấy trong thơ Cao Thoại Châu những vần điệu tươi mát. Đọc thơ Cao Thoại Châu buộc người đọc phải ngẫm nghĩ, trước khi muốn tận hưởng được hương vị của thơ . Chính điều đó làm cho thơ Cao Thoại Châu già dặn, có 1  chút cổ điển trong thơ anh , nó làm cho người đọc thơ anh- có thề thích, có thể không - nhưng buộc phải thừa nhận  thơ Cao Thoại Châu đáng đọc, không phải thơ thường thấy đăng tải vô thưởng vô phạt trên các báo   , hoặc một số tập thơ của tác giả háo danh xuất bản ồ ạt trong ít năm gần đây . Loại thơ lâp trình này càng đắt hàng, bởi dịch vụ  những kẻ háo danh có tiền muốn có tiếng tăm, bèn  thuê làm  văn mướn, viết thơ thuê,   phổ nhạc thuê trả tiền thù lao đặc  iệt  v. v. ...

         Trở về vơi Bản thảo một đời,  có hơn 10 năm làm nông dân ; hẳn Cao Thoại Châu có đôi lúc chạnh lòng, nhớ thị thành, cảm thấy bơ vơ, lạc lõng- anh tự thú :

                                    Ôm chiếc nóp thượng kinh thăm kẻ chợ
                                    Mặt khờ trân ngơ ngác giữa kinh thành
                                                    ...
                                    Ta chôn chân trên lòng đường xớ rớ
                                    Giữa kinh thành đầy ních những phu nhân  
                                    Mà đất  trời cũng nổi cơn ghen  
                                    Họ vẫn đẹp như hồi ta biệt tích
                                     Con chim hờn con chim bay cánh xếp
                                    Con cá si tình con cá lật trên sông .
                                       THƯỢNG KINH THÀNH / CAO THOẠI CHÂU

            Một buổi sáng đóng vai kẻ chợ, Cao Thoại Châu thấy những gì ? Nòi thi sĩ, tâm hồn trong suốt rất dễ tổn  thương:

                                     Dân  kẻ chợ thích xây nhiều chợ
                                     Chợ bán trời bán chim bán chó
                                     Bán thánh hiền văn chương chữ nghĩa
                                     Có chợ bán người họ cũng bán ta luôn.

         Chúng ta  hãy thông cảm cái nhìn có phần chua xót của Cao Thoại Châu về cuộc đời, nếu ta vào vị trí của anh; hẳn ta cũng có tâm trạng như thế.   Chính chất liệu rất thật ấy, góp phần làm cho bản sắc thơ  Cao Thoại Châu, mậc dù ta có thể nhận xét thơ anh có phần khuôn sao - điều này có mâu thuẫn chăng, khi tôi luôn bảo rằng rhơ Cao Thoại Châu có bản sắc - cái chất làm thơ Cao Thoại Châu khác hẳn với các nhà thơ khác.   Chính ở chổ ngặt nghèo này,Cao Thoại Châu chứng tỏ tài năng.  Trước hết tuy dùng vài cụm từ sáo mòn, pha chút lộng ngôn, nhưng thi tứ bỗng trở rất riêng tư Cao Thoại Châu :

                                         Gã  khờ trân lai kinh thăm kẻ chợ
                                         Không khi nào rời chiếc nón trên tay
                                         Rượu giang hồ đã cạn hết đêm nay

        Đã là thi sĩ  , không nhiều thí it, mang trong mình một chút nòi tình.   Cao Thoại Châu đau đông, đau tây; nhưng vẫn chừa 1 chỗ để đau tình.   Phụ nữ  , kẻ vốn xa lạ, nhưng, vừa chạm phải ánh mắt đầu tiên; ta thấy mà xao xuyến, mà vần vương ! hãy dọc một Cao Thoại Châu si tình, thơ của chàng nông dân thi sĩ :

                                       Cây  cũ bờ sông phơi áo rách
                                        Hai chén trà song ẩm một mình ta
                                        Thương cái bến bị thuyền neo cứng nhắc
                                        Đêm vô hồn nghe gió hú bâng quơ

                                        Thương con nước đời xô ra biển
                                        Chút bọt bèo bỗng hóa lênh đênh
                                         Mây vô cớ ngàn năm lận đận
                                         Gửi cho đời chiếc bóng phân vân
                                                      ...
                                          Và giai nhân người bao nhiêu nhan sắc
                                          Mà đời đau như bị phân thân
                                          Hương trên trời hương rơi xuống đất
                                          Hoa trong vườn hoa bị chôn chân .
                                             GỬI NGƯỜI THỤC NỮ  / CAO THOẠI CHÂU

              Một  bài thơ tình  đúng chất Cao Thoại Châu, trong tất cả niềm đau và hạnh phúc, ngọt ngào, đắng cay,  luôn có  1 người, không là hình bóng, luôn luôn bên cạnh tác giả. 
 
              Tôi nhớ lai,  khi học lớp 4 trường làng, thầy giảng  1 bài thơ Tản Đà trong Quốc văn giáo khoa thư, có câu:
                                  Đêm  khuya con ngủ đèn tàn
                                  Một hai thề sự muôn vàn tình sâu

                2 câu này hoc thuộc lòng, còn nhớ tới bây giờ - nhưng lúc nhỏ thì không hiểu - càng lờn càng hiểu nhiều thêm, và khi có gia đình, càng bền vững, tôi càng hiểu ý nghĩa một hai thế sự muôn vàn tinh sâu  gì ? 
             Cũng trong tâm trạng ấy, Cao Thoại Châu đã làm 1 bài thơ rất dài, tiếc là tôi không thể in trọn bài trong khuôn khổ bài viết  - chỉ trích đoạn để ta hiểu thêm một tâm hồn,  tuy gai góc, lại rất dịu dàng, khi nói về một người suốt đời gối đầu, tay ấp, với ta :

                                      Là vợ  nhà thơ để hiểu tiếng đàn
                                     Tiếng cuộc sống rơi trên vàng trên đá
                                     Tiếng hương bay và lòng hoa lặng lẽ
                                     Tiếng lòng người bị xé lúc sang đông
                                     Là giọt đắng trong hồn tôi tí tách
                                     Tiếng ngựa thồ lóc cóc trong đêm
                                      Kinh sáng thế đọc thành lời hủy diệt
                                      Là ảnh một người tôi yêu suốt trăm năm .
                                               THƠ TẶNG VỢ / CAO THOẠI CHÂU

              Nói về  người suốt đời chia ngọt, sẻ bùi với mình, Cao Thoại Châu nói bổng, nói trầm, chuyện mới, chuyện cũ - để cuối cùng dành trọn cái tình cho người" Tôi yêu suốt trăm năm ".

               Cao Thoại Châu tặng tôi  Bản thảo một đời, cách đây 10 năm, và 10 năm đã không gặp lại  và cũng phải mất 10 năm tôi mói đọc lại tập thơ Cao Thoại Châu.   Nếu bảo rằng, thơ Cao Thoại Châu hay , tôi  không dám khẳng định - nhưng tôi có thế nói ngay tức khắc :

..."  thơ Cao Thọai Châu  đích thực là thơ, anh làm thơ, vì những gì thuộc về thơ, do đó, anh có thể tự hào về dỏng thơ đã viết.   Người ta sẽ nhớ tới anh, theo phong cách anh hiện hữu; không vì những cái  vay mượn cuộc đời.  làm được như anh, tôi nghĩ, không nhiều lắm ". []

TRẦN ÁNG SƠN

( Những trang sách khép mở / trần áng sơn / tập 3 --  tr. 121 -. 132 )