Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2013

một mình một ngựa - nguyên sa - 4



                                       một mình một ngựa    4 :
             "  khuôn mặt dơ bẩn của bọn sa-đích văn nghệ  ..."
                                                 bài: nguyên sa 

           Thân gởi ...
      Anh em gặp gỡ tôi mấy hôm nay đông qúa.  Nhiều người bảo tôi :
      " Ừ cậu cứ tiếp tục cái trò chơi kỳ cục ấy đi, được đấy !   Nguyễn Văn Trung điện đàm nhắc nhở vài điều.   Trần Dạ Từ , tác giả  Tỏ tình trong đêm  đãi tôi 1 ly cà phê sữa ở quán cóc, trước cửa báo  Sống  và nói rằng :  " viết như thế trí thức quá !  Sợ rằng chúng nó [ Trần Phong Giao, Nguyễn Nhật Duật, Nguyễn Quốc  Trụ ...  * ] chưa hiểu .   Với cái bọn khốn kiếp đó, cần phải nói rõ rệt hơn nữa. "  Tướng biên khu Tú Kếu nhìn tôi, cưới khóa trá.   Đằng Giao  [ họa sĩ  *]  bảo mấy  thằng sa-đích nó gặp Đằng  Giao, nó quay đi.   Và Đằng Giao cười, cái cười bao hàm thật nhiều ý nghĩa.   Một nhà văn thuộc loại già khuyên tôi rằng, mỗi lý họp anh em lại để tham khảo ý kiến, sưu tầm tài liệu, rút ưu khuyết điểm, để có thể phơi bầy cho rõ rệt hơn nữa: khuôn mặt dơ bẩn của bọn sa đích văn nghệ .

     Tôi không đồng ý  với anh, vì những lý do sẽ trình ở cuối thư này; nhưng đã giữ lại một phần ý kiến của anh.   Tôi tìm gặp một số anh em đông đảo, không phải để kết bè kết nhóm, không phải để sưu tầm tài liệu; mà để nghe anh em chỉ trích về những việc làm văn nghệ của mình.

     Bữa nhậu nhẹt ở nhà của 1 nhà thơ trẻ tuổi đó, hôm thứ 2 vừa qua, có tôi.   Anh em họp mặt ở đây có độ 10 người.   Anh em  "chê  "tôi .   Anh em xài xể tôi tưới hạt  sen:  

      "Anh chẳng hiểu gì cả .  Với cái bọn đầu trâu mặt ngựa đó mà anh nói cái chuyện tư cách của nhà  phê bình, nói đến " đời văn " , " nói đến việc làm quy mô và liên tục , thì thực anh chưa hiểu gì về bọn chúng ..." .

     Đây, tôi kể cho anh nghe 1 chuyện.    Anh biết 1 nhà thơ nọ, tác giả mấy tập  thơ tình cũng đã nổi tiếng lắm -- một buổi đẹp trời kia được sa-đích tìm gặp và bảo muốn có phê bình" một quả " không ?  

       Một tác giả   bởi phản ứng tự nhiên  , bầy tỏ sự hoan nghênh lớn.   Sa-đích bèn rút trong túi ra 1 bài phê bình, đã giao cho cho bọn côn quang tay em, làm sẵn từ trước, đưa cho nhà thơ  coi. 

       Nhà thơ đọc xong, bèn toát mồ hôi, vì thấy nó sào nấu mình ghê quá !   Anh đưa trả cho sa-đích tờ giấy bẩn thỉu đó và nhìn nó bằng cặp mắt kinh ngạc.   Lúc đó sa-đích mới nở nụ cười nham hiểm mà bảo rằng  :  

      "... anh yên chí [ đi] !  Bài này ông chủ nhiệm  i-tờ - rít   của tôi  [ ám chỉ   Nguyễn Đình Vượng, chủ nhiệm  tạp chi "  Văn " * ]  định đăng, nhưng tôi bỏ.   Tuy là salarié [ làm   thuê ăn lương ] nhưng tôi là vua ở đó .  Ông chủ tôi chỉ biết toàn  "co  " [ corps *] chữ , chứ chẳng biết quái gì về văn nghệ đâu ? Tôi dùng ông ta làm cái bung xung để khi  có thằng nào chửi bới mình, thì mình bảo hỏi ông chủ nhiệm; tôi chỉ làm thuê .  Tôi sẽ đăng một bài khen anh thật nặng .   Nhưng ông chủ tôi đã trả tiền bài này rồi .[ ý nói bài  chửi  mà sa-đích vừa đưa cho  nhà thơ kia xem  *]   Ông không chiu trả thêm bài nữa 
 [ ý nói " muốn có phê bình một quả khen thật nặng không ? "  *] . Do đó, nếu anh muốn tôi bỏ bài này, đăng bài khác thì ... anh chịu cái sở phí đó. "  

     Nhà thơ của chúng ta  lúc đó mới ngã ngửa người ra, mới hiểu rằng, thì ra sa-đích nó muốn" bắt địa" mình. 

     Bị dụ vào thế kẹt, cái thế làm" săng ta" [ chantage *] , anh đành nhắm mắt đưa chân và hỏi bao nhiêu ?   Sa-đích mấp máy cặp môi thâm sì và nói lên  một tiếng" 5000 ".  Ngừng một  giây, nhà thơ trẻ tuổi" biết quá nhiều "  đó kết luận :
     " Đấy,   anh thấy chưa, với bọn khốn nạn  như thế [ ám chỉ Trần Phong Giao * ]  mà anh nói đến đời văn  với lại nhà  báo đó [ Nguyễn Đình Vượng *] , tuy chữ nghĩa không  nhiều , nhưng cũng đủ là người tha thiết với văn nghệ .  Nào ngờ người phúc đức thế mà lại gặp cảnh " nuôi ong tay áo".   Sau lưng nó chê mình chỉ  biết toàn" co" chữ , nó dùng báo của mình để đi " bắt địa văn nghệ ".  Rồi có ai chửi nó, nó lại giơ cái salarié có lương tháng thứ 13 của nó ra để đẩy mình ra trước búa dìu dư luận ". 

     Nhà báo viết phóng sự nổi tiếng ngồi cạnh tôi,  nốc một hớp " lave" , chấm điếu thuốc, rồi hỏi tôi :

     " Ông đã đọc cuốn sách của Lê Tầt Điều vừa viết bề sa-đích văn nghệ chưa ?  " Tôi đáp:" Chưa".  Anh cười và  nói :

     " Thế thì ông ông chưa biết gì cả !".   Đứng cạnh tập truyện của Lê Tất Điều viết về sa-đích , thì  những gì anh viết còn bay bướm quá !   Anh chỉ là một thứ tay mơ.   Anh có biết không ? Lê Tất Điều gọi nó là con nhặng.  Con nhặng đậu trên 1 đống đờm để hút lấy chất nước bẩn thỉu đó.   Nhặng xanh hiểu chưa ?  Nhặng xanh chỉ có thể sống được, nếu được tiếp tục hút chất dơ bẩn.  Nó sống bằng sự dơ bẩn .  
Nó là sự dơ bẩn.  ông thấy chưa, ông gọi nó là sa-đích văn nghệ, thì cái chữ của ông nó đẹp quá, nó" nốp" [ noble * ]  quá, thiếu dân tộc tính.   Phải gọi nó là " con nhặng xanh" như Lê Tất Điều đã làm ". 

     Khi bữa nhậu gần tàn, một anh em đã bầy tỏ ý nghĩ: muốn tương trợ với tôi .  Anh này bảo để cùng viết trên một nhật báo.   Anh nói  :

    " ...để tôi viết thêm trên một tờ tạp chí.   Các anh em nói đại khái là mỉnh phải áp dụng xa luân chiến mới làm cho cái bọn sa-đích văn nghệ nó sáng mắt ra.    Chúng nó tồi tệ lắm.  Một mình anh không thể địch được cả bầy lang sói ..."

      Tôi ghi nhận những câu chuyện do các anh em kể ra, ghi nhận thiện chí giúp đỡ
 [ của * ] anh em.   Nhưng tôi cũng cần  nói rõ là tôi không hoàn toàn đồng ý với các anh.   Các anh đều ghét lắm cái tên sa-đích văn nghệ lừa thấy phản bạn ; "  sớm đầu
 [ hàng * ] tới đánh " khốn nạn đó !   Tôi hiểu lắm.  Nhưng tôi khẩn thiết xin  các anh quên nó đi.  Nhưng lá thư này, tôi đã không nhắm đến những cá nhân cố định, dù chúng nhơ bẩn đến đâu.   Ta vần phải đế cập đến  * * ( sic )  một mẫu sa-đích văn nghệ để cho những người văn nghệ trẻ có thể nhận được khuôn mặt bẩn thỉu cua chúng một cách dễ dàng, để có thể yên lòng mà sáng tác.   Các anh cũng đừng bênh tôi.   Cứ để một mình tôi đủ  rồi .  Các anh cứ để cho tôi một mình một ngựa . 
-----
*      [ ... *]  chữ của Biên tập . 
* *   sau đề cập không cần chữ đến ...
------ 
      Bây giờ , với tôi, sự sống và cái chết thây cũng thường lắm.  Cho nên có sá gì những sa-đích văn nghệ và  lũ đàn em  hèn mọn của nó.   Những thủ đoạn của nó tôi có kể gì, các anh không cần phải dính vào.   Cứ để tôi một mình một ngựa.  Vả lại, cái tính tôi xưa nay vẫn thế .  Không thích béo bè kết nhóm.

     Báo nào viết được thì viết.  Dù nhóm của anh to đến đâu, khỏe đến đâu, đòn phép tài tình đến đâu, quy tụ các đàn anh văn nghệ nặng đến đâu, em cũng xin phép không gia nhập.   Xin phép dứt áo ra đi.  Tôi không thích cái cảnh: những cồn cát tụ họp với nhau, để gây ảo tưởng trái núi.   Không thể chịu được cái cảnh suy tôn lãnh tụ ở trong văn nghệ.   Một anh viết chẳng ra gì , làng xúm lại, nay nịnh  một câu, mai khen một câu cũng chẳng lừa dối được ai.   Cái chiến thuật một lời nói dối nhắc lại  nhắc lại nghìn lần trở thành chân lý áp dụng tốt cho chính trị, sớm muộn cũng thất bại to trong văn nghệ. Tôi sẽ trở lại vấn đề này.   Sẽ nói kỹ về hiện tượng bè nhóm văn nghệ.   Sẽ nói về các trỏ ảo thuật của các tay đàn anh, để đưa người này lên, hạ người kia xuống.   Nói thật kỹ, chẳng vì giận dữ gì ai, mà cốt để những trò hề văn nghệ đó diễn từ 10 năm nay, đừng diễn lại nhạt lắm ! 

     Tôi nói trước những điều sắp viết , như thế , để anh em thấy rằng  sa-đích chỉ là một khía cạnh nhỏ của những lá  thư này.   Tên sa-đích hạng bét và lũ bồi của nó không
đáng cho ta quan tâm nhiều hơn.

     Và các anh cũng chẳng cần bận tâm lo lắng cho tôi.  Tôi còn phải viết nhiều lá thư.   Lo cũng không xuể đâu, còn làm phật lòng cả những đàn anh " lớn"  lắm ! 

     Cứ mặc tôi.

     Cứ để cho tôi một mình một ngựa. 

     Thân ái, 

     nguyên sa 

( Một mình một ngựa / Nguyên Sa - Nxb Nhân văn , Saigon 1970 - tr. 23 - 27)

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

hai quán cà phê đầu tiên ở Saigon vào năm 1864... : bài : đỗ văn anh .



    hai quán cà phê đầu tiên  có mặt tại saigon vào năm 1864 :  café lyonnais và café de paris
                                        bài : đỗ văn anh

Lời dẫn .-

         Nhớ tới Trần Thị Bông Giấy ( 1950 -      ) , có một thời gian  làm ở quán Coffee Starbucks ở San Jose , nữ văn sĩ thường cà phê cà pháo với tôi ở Dalat, Sài Gòn,  hình như  chưa lần nào  cho biết hương vị  cà phê Mỹ Starbucks  ra sao ? 

      Mới đây, báo chí Sài Gòn loan tin Coffee Starbucks  sẽ mở quán  đầu tiên ở  Saigon  vào tháng 2 năm 2013. 

          Lại được nghe tin: một ông Mỹ nào đó, đã đi trước một bước, mở  IYO-YOGURT ở  mạn Dakao, ly cà phê hương vị tương tự Starbucks : 65  ngàn Vnđ.  - cũng vừa túi tiền cà phê hạng sang, Cappuchino ở  Cannalis 45 , Trung Nguyên 70. 

    Đỗ Văn Anh , tay dịch  sách, báo tầm cỡ, nay khoảng trên 80, không hiểu còn tại thế ? đã lâu không ghé nhà anh ở mạn Hàng Xanh.   Vẫn nhớ rất nhiều lần, tôi tới Thư Viện  Khoa học Xã hội ( đường  Lý Tự Trọng) sau khi tìm tư liệu xong, phút thư giãn, hai  chúng tôi lội bộ qua ngã tư Lý Tự Trọng + Đồng Khởi, ghé  hàng lang một tòa  building,  uống cà phê của một bà Bắc- Kỳ-Tân - Gia- Ba * .

      Đỗ Văn Anh  từng là công chức ,  trước 1975, tòng sự tại  Viện Khảo Cổ , bạn đồng liêu với nhà khảo cổ nổi danh Vương Hồng Sển. 

     Pháp thực dân xâm chiếm  Việtnam vào cuối thế kỷ XIX, theo chân, có  2 tây thương nghiệp mở 2 quán cà phê đầu tiên ở Sài Gòn  - bài viết nhỏ,  Đỗ  Văn Anh  giúp chúng ta thư giãn đôi ba phút ,chờ đợi ly cà phê Mỹ Starbucks  lần đầu tiên xâm chiếm khẩu vị người Saigon  ở thập kỷ đầu thế kỷ XXI.

     Hãy chờ xem  người Saigon, nói riêng, Việtnam, nói chung ,uống cà phê  Mỹ Starbucks   có hợp "gu " không ? 

  ĐƯỜNG BÁ BỔN 
 SAIGON , JAN., 15, 2013.  

----
*  -Tân Gia Ba , tên cũ  Singapore trước 1975-
  - trong bài này, ý nghĩa đùa nghịch dẫn giải:
   tân: mới, gia: nhà, ba" ba mươi tháng tư -  ám chỉ bà chủ quán 
   Hànội vào Saigon sau 30-4 ,  pha cà phê bình dân ngon, rẻ,  độc thân vui tính , 
  đã "bị"    lọt vào mắt xanh Đỗ Văn Anh mà chưa ăn " cái giải gì' ?!  


  - quán cà phê đầu tiên mở ở Marseille ( Pháp ) vào  năm 1654.
   -" để thành lập một thuộc địa, người Anh bắt đầu bằng túi tiền, tây Ban Nha bằng một nhà thờ và Pháp , là  mở quán cà phê " ..
   - 2 quán cà phê đầu tiên có mặt ở Saigon  từ 1864 :  Café de Paris & Café de Lyonnais .
    -  quan đại thần Phan Thanh Giản và sứ bộ  quá bộ vào  Café de Paris  ở Saigon thưởng thức cà phê vào năm  1864 .



      Các quán cà phê ở Sài Gòn xuất hiện rất sớm, ngay từ khi Pháp chiếm Sài Gòn , chứ không phải đợi đến khi cây cà phê được đưa vào trồng ở  Việtnam.   Vì tại Pháp, quán cà phê xuất hiện  đầu tiên ở Marseille   gần 200 năm trước ( 1654)  và quán cà phê  Divan   rất được khách  lui tới, đã đóng cửa vào đúng năm thành Gia Định bị Pháp chiếm ( 1859) .   Mặt khác, sự hiện diện đông đảo binh lính cần phải cấp dưỡng mà khẩu phần cà phê sáng là cần thiết và bắt buộc ( họ còn mang cả nệm chở trên lưng lừa cho các sĩ quan nằm trong các cuộc hành quân nữa !).

     Câu  nói : " Để thành lập một thuộc địa, người Anh bắt đầu bằng túi tiền, người Tây Ban Nha bằng một nhà thờ, người Pháp bằng một quán cà phê .." dẫn bởi Lemire trong cuốn La Cochinchine Francaise en 1878  / Xứ Nam Kỳ vào năm 1878 ) - có thể hiểu được ám chỉ thích ăn ngon của người Pháp, so với tinh thần thực tế  người Anh, sự một đạo  người Tây Ban Nha.   

     Tuy  thực sự người Pháp đã bắt đầu  thành lập một bệnh viện để chữa trị các thương binh của họ; nhưng đồng từ các căng-tin trong quân đội , đã có các quán cà  phê của tư nhân xuất hiện trước năm 1851.   Như tài liệu xưa có ghi chép là trong số những công trình xây dựng đầu tiên có một quán cà phê với một số nhà thờ nhỏ được khánh thành vào ngày 15 tháng 8 năm 1860.

     Có 2 quán cà phê mà tên hiệu và địa chỉ được nói đến trong các tờ Courrier de 
Saigon / Người đưa tin Sài Gòn ) , L' Illustration  / Báo Ảnh , tất cả đều xuất bản vào năm 1864.   Đó là quán Cà phê dân  Lyon / Café Lyonnais  và quán Cà phê Paris / Café de  Paris .  Hai quán cà phê này   tất phải có từ  rất lâu ( 1864)-- vì như ta biết -- người Pháp chỉ cho là họ vững vàng trong việc chiếm Sài Gòn, kể từ 1862, sau khi hạ được đồn Kỳ Hòa.   Và tuy họ bị bao vây, nhưng vẫn mở mang thành phố lần lần, nhờ đã làm chủ được trên sông Sài Gòn đến Vũng Tầu, sông Soài Rạp, sông Vàm Cỏ Lớn .

     Quán Cà phê Lyonnais , theo tờ L' Illustration  ra ngày 23- 4- 1864  thì nằm trên đường  Gouvernement , gần ụ chiến hạm Primauguet.   Trong tài liệu về tên đường, chỉ thấy nói đến Rue du  Gouverneur . (  đường Thống đốc  Lagradìere / Gia Long / Lý Tự Trọng  ) .  Nhưng đường này  còn bị ngăn  cách sông Sài Gòn, bởi đường Lê Thánh Tôn -- nên nếu còn tên đường  Gouverneur  / Chính Phủ  -- thì có lẽ xưa kia mới đánh chiếm Sài Gòn-- đường này là chỗ đóng bản doanh các đô đốc đầu tiên.   Và theo hình ảnh và bản đồ, thì đó có thể là đường Ngô Văn Năm hiện nay ( ngõ hẻm Promauguet và đường Hải Quân cũ )  đâm thẳng ra ụ chiếc Primauguet mà  Rigault  de Genouilly đóng đô trên đó lúc đánh Sài Gòn và
 D' Aiès cũng đặt văn phòng  trên tàu.

    Quán cà phê này không còn thấy ghi trong tập Thời sự cẩm nang Vade mecum 1905.   Có lẽ  nó được thay thế bởi quán  Café de la Marine / Cà phê Hải Quân dễ lui tới hơn và cũng ở gần  đó,. tại số 3- 5 Công   trường Rigault de  Genouilly / Công viên Du lịch bến Bạch Đằng  ,  bên cạnh đường Tôn Đức Thắng hiện nay .

    Còn về quán Café de Paris, theo Niên giám Nam Kỳ -- vào 1864, trong đón có Câu lạc bộ Thương mại /  Cercle Commercial ở tại bến sông, góc đường số 16 Catinat / Tự Do / Đồng Khởi -- mà chủ nhân  là ông  Bonnerieux.    Theo tờ Courrier de Saigon  ra tháng 3 năm 1864, thì sứ bộ Phan Thanh Giản có ghé Sài Gòn, trước khi  ra Huế để trình  lên vua Tự Đức  kết quả chuyến đi Pháp vào 1863, trong sứ mạng thương thuyết xin chuộc lại  3 tỉnh miền Đông đã nhượng cho Pháp.    Và khi đó , vào ngày 19 ... Phan Thanh Giản và 2 vị đồng sự không có lọng che, tiền hô hậu ủng, như nghi lễ, đã quá bộ tới thăm quán Café de Paris , nơi đây họ có dịp gặp lại một số sĩ quan Pháp, như một  nghi lể thăm viếng ...  ( xem Anthologie Franco- Indochinoise  - VI 49 ) .

     Quán cà phê này còn lưu lại dấu vết tới năm 1905, tại đường Paul de Blanchy / Hai Bà Trưng  số nhà 83,   chủ nhân là ông  Vital . [] 

          đỗ văn anh 

 ( Saigon Xưa & Nay  / Nxb Trẻ + Tạp chí Xưa & Nay  xuất bản,  2007 - tr. 255- 256 ) 

Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2013

một mình một ngựa - nguyên sa - 2


Lời dẫn: 

      Trong  tự- sự -kể THẾ PHONG, NHÀ VĂN, TÁC PHẨM, CUỘC ĐỜI  , tôi gọi đích danh Nguyên Sa- Trần Bích Lan là mật vụ của thời Đệ I Cộng hòa.  Thực ra không phải vây, tôi lầm,   lời cáo buộc kia  rất quá đáng ! Thực  ra , anh chỉ nhận tiền của Sở Nghiên Cứu Xã hội  ( danh xưng  nấp sau Mật vụ Trần Kim Tuyến thời  Ngô Đình Diệm ) cấp tiền cho anh làm chủ nhiệm tạp chí Hiện Đại.  ( nhà văn  Thanh Nam, biên tập và thi sĩ  Thái Thủy, trị sự).    Ra được  mười mấy số , không được cấp  tiền nữa, anh nói thẳng thừng :  " .. mật vụ không cấp tiền nữa, báo đành đóng cửa vậy " . 

       Khoảng 1967, anh viết  cho nhật báo Sống    [ Chu Tử ]  dưới bút danh Hư Trúc, nhật báo Độc Lập,  là  Lê Hải Vân , đánh  bọn sa đích văn nghệ: Trần Phong Giao,
 Nguyễn Nhật Duật, Sơ  Dạ Hương ( Nguyễn Quốc Trụ )... hoặc sau  hỗ trợ  nhà văn 
Thế Nguyên , chủ nhiệm tạp chí Trình bầy ( từ 1970 trở đi)  đánh phá bọn 
" văn nghệ viễn mơ" -  ám chỉ văn sĩ Mai Thảo  và  tạp chí Sáng tạo   -- mà ban đầu anh đã có những bài văn thơ đăng trên báo này khi mới ờ Paris về Saigon .
   
     Cùng đọc  lời phân trần  trong bài BẠT,  khi  Phan Kim Thịnh cho in thành sách vào 1971, Nguyên Sa viết : 

    " Trong hai lần, lần đầu năm 1967, trên nhật báo Sống, lần thứ nhì , năm 1967, trên nhật báo Độc Lâp, tôi đã viết hai loạt bài mà lý do, mục đích nội dung, tự những bài văn đó đã nói lân đầy đủ (...)  Những người được nhắc tới trong những bài  văn không còn gây cho tôi một tình cam vui buồn nào .  Họ cũng như những sự việc đã xảy ra và hoan toàn thuộc về dĩ vãng.   Những bài báo được in lại trong cuốn sách  này [ Một mình một ngựa, Nhân văn xuất bản  , Saigon 1971] như đã hứa, như thế chỉ còn ý nghĩa của một chứng tích "

THẾPHONG
Saigon , Jan., 13, 2013


                                      " vì sao phải nhìn một lần khuôn mặt dơ bẩn của bọn sa- đích văn nghệ . " ( Một mình một ngựa   2 ) 
                                              nguyên sa 

     Thân gởi ...

      Khi bày tỏ  ý muốn đề cập tới  cái quái thai, cái đống rác to lớn  của văn học nghệ thuật ta, tôi đã nhận được những phản ứng khác nhau của bạn hữu.   Khuyên nhủ và can ngăn, khuyến khích và  tiếp tục và canh gác đề phòng.  Anh nầy bào tôi rằng không, cậu không nên dây dưa vào với bọn hủi đó.   Một mình anh chẳng có thể sửa đổi  được cuộc đời.   Văn nghệ ta cũng như xã hội của ta, cũng như chính trị của ta thường trực  bị phung phá  bởi loài độc trùng, bởi những thằng khốn , chúng ta chẳng có thể làm gì được.   Hãy đi thật xa, hãy lảng tránh thật thận trọng những dơ bẩn đó.   Va chạm vào chúng anh sẽ bị chất độc của chúng ngấm vào cơ thể, mùi xú uế nhiễm vào chân tay.   Không được, tôi khuyên anh hãy tránh xa. 

     Nhà văn kia nói như Kant, nói như Sartre.  Anh phải làm.  Hậu quả ra sao mặc kệ.  Nếu người nào cũng nghĩ như anh, nếu người nào  cũng lưỡng lự, cũng đứng bất động trong tháp ngà,  tên là ( ?)   không va chạm  thì cuộc đời này sẽ ra làm sao .  Văn nghệ sẽ ra làm sao ? :  " Chúng ta có trách nhiệm về tất cả mọi việc , về tất cả mọi người "  -  anh có nhớ nhà văn Pháp  vã nói câu này trong một cuộc hội thảo văn nghệ ở  Ba lê [ Paris ] không .  Trong thời tuổi trẻ chính anh đã đọc lên cho tôi nghe câu văn ấy, anh nhớ không?

     Nhà thơ bạn tôi khuyên nhủ thì muốn nói đến chúng nó thì nói.   Nhưng đừng nói đến tên những thằng hèn mạt đó.  Dù cho chúng muốn nói mỉa mai gì đi nữa, chúng đúng là những thằng hèn mạt.   Anh nói đến tên chúng nó là một vinh dự cho chúng.

     Người can ngăn tôi nhiều nhất là nhà thơ lão thành đã bị sa-đích văn nghệ đem ra đâm chém nhiều lần, bây giờ đang ở trong tình trạng sắp bị sa-đích văn nghệ đem ra làm số đặc biệt để tưởng niệm.[ tạp chí Văn / Trần Phong  Giao, thư ký tòa soạn ]   Một mặt nó chưởi bới, bôi nhọ những người làm văn nghệ tốt.   Một mặt chúng vẫn không dám chối cãi rằng, những người đó là những người có uy tín.   Chúng cớ là ngay số báo đầu tiên của chúng đã phải mượn tên anh em mình để làm quảng cáo.   Chúng không bao giờ tự hỏi rằng thế thì cái uy tín đó lấy ở đâu ra .   Cho nên, anh cứ kệ chúng.   Mình sống thì ghen tuông làm mờ mắt nên chúng chửi bới mình.  Mình nằm xuống thì chúng sẽ buôn bán  trên xác chết mình bằng những số đặc biệt ngay. 

     Anh cứ coi nhà  thơ Đinh Hùng thì biết.   Chính những tên sa-đích súc sinh [ ở cùng ]  thời Đinh Hùng  chê bai hết nước hết cái, nào lãng mạn, nào tiền chiến, nay lại sửa  soạn ra số đặc biệt về Đinh Hùng, nay lại ra điều nhân nghĩa, chẳng còn gì là liêm sỉ cả.

     Sau cùng, một bạn trẻ viết thư cho tôi lại nói rằng phải coi chừng.   Bọn chúng nó đông lắm.   Miệng lưỡi chúng rắn rết lắm.  Đụng đến chúng tức khắc chúng sẽ chụp cho anh một lô mũ.   Nếu chưa đi lính chúng sẽ đăng tin sỏ lá, đại loại như nhà văn này đang đi linh tàu bay, nhà văn kia đang trốn động viên tại một cơ sở tôn giáo nọ.   Nếu anh đi lính rồi sẽ biểu lộ sự thâm độc , mong muốn  anh bị đau  ốm chết chóc nơi mũi tên hòn đạn, hoặc loan tin anh bị loạn thần kinh.   Tốt hơn hết là anh đừng lôi thôi với lũ rắn rết đó .

     Những bạn  hữu đã quá yêu tôi.  Những người khuyến khích đã mang lại cho tôi  sự hăng say mà chính tôi không có đầy đủ.   Chân tình của bạn hữu đòi hỏi tôi phải thưa với anh em vài điều.   Tôi không hoàn toàn đồng ý với những anh em  quá lo ngại cũng như với các anh em quá hăng say.   Là một con người, với tất cả những yếu đuối đáng hãnh diện của kiếp người, tôi đã sống trong những tình cảm oán giận và lo sợ.

     Nhưng bây giờ những cảm xúc núi đổ, biển dâng đó đã trôi qua, chỉ còn lại , chỉ còn lại sự bình thản lặng lẽ ngồi ở đây đọc cho tôi viết những dòng này.

     Sự cáu giận nhất định không cần thiết và thường đưa tới những suy tưởng văn nghệ sai lầm.   Trong lúc cáu giận, tôi nghĩ rằng,  tôi sẽ viết thật rõ, gọi đích danh những tên sa-đích văn nghệ.  Có lúc tôi nghĩ như lời dặn dò của bạn hữu là không nói đến tên chúng, vì như thế quả thực là một vinh dự quá lớn cho chúng.   Nhưng tôi sẽ mô tả thật rõ rệt.   Đủ rõ rệt để cho mọi người nhận ra  được một cách dễ dàng khuôn mặt ghê tởm, mùi hôi thối của tên sa-đích.   Có thể chúng sẽ còn đến trà đình nọ như Cái Chùa [ La Pagode ] đê ngồi huênh hoang:  " ... có phải ta đâu ? có dám gọi đích  danh đâu ".  Nhưng đêm đến, vắt tay lên trán , chúng chẳng thể che dấu được hổ thẹn, vì chúng tự biết rằng, khi gọi đích danh, chúng sẽ tìm cách lẩn trốn vào trong bóng tồi.   Bây giờ, sự cáu giận đốt thành ngọn lửa ghê gớm đó đã trôi qua, đã tắt.   Bây giờ, tôi nghĩ rằng cáu giận như thế là sai to, là nhầm to.   Vấn đề sa-đích văn nghệ, mà ta cần đề cập  trong những lá thư này, phải là một vấn đề tổng quát.   Phải nói đến những tên sa-đích chung chung chớ không nên nhằm vào một tên cố định.  Như thế  mới có lợi cho văn nghệ.   Bởi vì những tên sa-đích tương lai, sẽ xuất hiện trong năm năm, mười năm nữa sẽ không thể nhìn thấy bản thân trong những nét tổng quát đó.   Chúng sẽ  bị lộ diện khi mưu toan ám hại các nhà văn.   Như thế  mới có lợi cho văn nghệ .  Mới giúp được cho những người trẻ tuổi tương lai thẳng đường tiến tới sự sáng tạo  mà không bị vướng víu bởi những rác rưởi ven đường.

    Nghĩ như thế không phải là sợ hãi !   Nơi tôi, giờ cũng chẳng còn sự hãi trước những hành vi phao vu láo khoét, bôi nhọ bần tiện, chụp mũ hạ cấp của bọn sa-đích văn nghệ.   Bởi một lý do giản dị: Tôi đã chứng kiến quá nhiều lần những sinh hoạt hèn hạ của bọn chúng .

     Tôi còn nhớ vào khoảng những năm 59 và 60 gì đó, một bọn sa-đích đã mang tôi ra làm thịt trên một tờ báo.   Trong khoảng thời gian đó, tôi có cho đăng một bài thơ trên 
Thế Kỷ Hai Mươi.   Bài " Năm ngon tay ", đại ý nói rằng   bàn tay em chỉ có năm ngón.  Ngón em dùng để đếm tiền, ngón kia em dùng để lái xe, ngón em dùng để cởi coóc-xê, ngón tay em  cài khuy áo.   Cho nên em chẳng còn ngón nào để giữ lấy tay anh.   

      Là một người văn nghệ, tội thường ít quan tâm đên vấn đế luân lý.   Điều cốt yếu, với tôi, là cố gắng đem lại tác phẩm tốt, đem lại cái đẹp, chớ không phải đem lại những bài truyền giảng đạo đức.   Tuy nhiên, bài thơ nói trên của tôi, xét cho kỹ, có một nội dung đạo đức rõ rệt, bởi lẽ, đã coi tình cảm là quan trọng hơn những thèm khát vật chất như tiền tài, đồ trang sức, xe cộ.   Thế mà, bọn sa đích thời đó, trong nhiều bài báo liên tiếp lên án về cái sự vô luân  lý, về cái sự sa đọa của bài thơ.   Thậm chí, chúng còn lên tiếng yêu cầu bộ Giáo dục; không cho tôi dạy học, vì đã  vô luân lý đến mức độ dùng hai chữ coóc-xê trong thơ.

    Bây giờ, nếu tôi  không nhắc lại chuyện này, chắc chăng ai còn nhớ đến cái bọn sa-đích thời đó nữa.   Chẳng còn ai biết tên, biết tuổi chúng là ai ?  Tôi cũng không còn nhớ cái tên cái thằng sa-đích chụp cho tôi cái mũ vô luân lý, cái mũ sa đọa đó nữa. 

    Sa-đích, chúng nó đến rồi chúng nó đi, hết lớp này đến lớp khác, trong sự u tối, vô danh và nhục nhã của chúng, có gì mà phải sợ.   Nhưng cái thuở viết bài thơ đầu tiên, cái lúc đăng truyện ngắn thứ nhất, người trẻ tuổi đang hăng say làm văn nghệ có thể chán 
nản , có thể bị đu đẩy vào cái trạng thái buồn nôn, nếu đụng chạm với bọn đầu trâu mặt ngựa văn nghệ đó.   Cho nên, những lá  thư này, bài văn này không phải là kết quả của cáu giận hay sợ hãi.

     Tôi viết để gửi đến những  người viết  với ước vọng chân thành này.   Các anh cứ sáng tạo cho thật hách, cứ viết văn làm thơ một cách nghiễm nhiên, đầu ngẩng cao, không đi vào con đường hèn hạ của  bọn sa-đích văn nghệ.   Và trên đường đi, nếu anh đụng chạm với bọn chúng, anh có thể căn cứ vào những mô tả của những lá thư đó, để nhận ra một cách dễ dàng khuôn mặt bẩn thỉu của bọn chúng.   Lúc đó, các anh không cần phải nói năng gì đến bọn chúng, không phải quan tâm gì đến bọn chúng.   Các anh cứ việc nghiễm nhiên  sáng tạo, mặc cho chúng uất hận trong sự ghen tuông điên dại.   Nếu cần, các anh có thể ném cho chúng một nụ cười khinh bỉ,  bao hàm ý nghĩa không cần nói nhiều với bọn sa-đích văn nghệ.   Năm 1967, bạn ta, Hư Trúc * đã nói đủ rồi .  Có đủ mặt các người trong đó.  

    Hẹn thư sau . 

   nguyên sa 

( Một mình một ngựa / Nguyên Sa /  Nhân văn xuất bản, Saigon 1971  - tr. 9- 14 ) 


-------
*  Loạt bài này đăng trên nhật báo Sống, dưới bút hiệu Hư Trúc.   Tôi có thói quen thỉnh thoảng viết cho một nhật báo môt loạt bài, mỗi lần chọn một bút hiệu khác.   Nhưng mỗi lần đều để những dấu vết đầy đủ, cho thấy người viết là Nguyên Sa.   Trong trường hợp loạt bài này, sự viện dẫn " Năm  ngón tay "
 là một chứng cớ cụ thể.  ( Chú thích: Nguyên Sa ).  
**   [ ...]  và chữ in nghiêng của Biên tập.  
    
       

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

năm chương tự ngôn - triều đẩu - 6 - kết thúc



                                     năm chương tự ngôn      6 - kết thúc
                                                                     triều đẩu

                      

      lời bạt 

      6

       (...)   Cũng  có nhiều bạn  ngoài cuộc đã không quan niệm được, một người có thể vừa là công chức vừa làm văn nghệ.   Và đặt câu hỏi:

    " Vậy  thì viết [ vào ] lúc nào ?"

     Thực ra, viết cũng đòi hỏi những điều  kiện sắp đặt gắ gao.   Tôi chỉ có thể viết được , khi nào hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài.   Nghĩa là ban đêm tĩnh mịch hoặc ban ngày
  ( chủ nhật hay ngày lễ ) trong phòng riêng, cửa đóng kín và không một ai, kể cả bà Triều Đẩu, được hỏi han điều gì.

     Lẽ dĩ nhiên, nếu bạn nào đến thăm tôi vào lúc ấy, người nhà tôi sẽ nói thác là tôi đi vắng đêm khuya mới về.   Lối làm việc này có một vài điểm giống quý đồng nghiệp Georges Siménon, nhà văn chuyện về những truyện trinh thám.

    Ông cũng làm việc ở phòng riêng biệt, cửa khóa chặt hoàn toàn với thế giới bên  ngoài. Rồi bất thình lình trong phòng có tiếng cãi cọ ầm ỹ.   Có ai ngạc nhiên tưởng rằng có chuyện xô xát thì bà Siménon mỉm cười , giải thích :
     "  Tiểu thuyết tới những pha gây cấn đó ". 

      Thì vừa lúc ấy, cuộc xô xát trở nên ghê gớm, vì có cả tiếng máy chữ bị ném tung xuống sàn.   Georges Siménon đã nhập thần cùng những nhân vật và cũng khoa chân tay dấm đá , nếu cần.

     Về cái gọi là tính tình và nếp sống tưởng người công chức với người văn nghệ không bao giờ có thể ăn ý với nhau được.   Một người vốn cẩn thận và ngăn nắp, người kia thì phóng khoang và lãng mạn bao giờ họ chịu bắt tay nhau.   Thế mà với tôi, 2 ông đã rất hợp nhau, đến mức tri kỷ.   Bởi vì tôi là người giữa, tôi biết dung hòa và điều động ờ bên những điểm nào quá trớn.   Như vậy, người văn  nghệ sĩ sẽ ngăn nắp cẩn thận và đồng thời người công chức cũng có lúc phóng khoáng và lãng mạn.   Có làm sao ?

     Một dạo, các bạn tôi vá chắc chắn có cả một số độc giả yêu quý của tôi nữa, thấy tôi ít s áng tác mà chỉ có dịch [ thuật ].   Dịch những  bản những ban pháp văn của những nhà Hàn lâm viện Phá, như André Maurois hay A. Siefried.

      Các bạn xem chừng  đã không hiểu lòng tôi và chỉ muốn tôi sáng tác và cứ sáng tác.   Ô hay  Sao lại bắt bí nhau thế !  Dịch văn ngoại ngữ cũng cần lắm chớ,

      Trong tình trạng hiện thời của văn nghệ nước nhà, tôi thấy dịch còn cần thiết vá cấp ab1ch hơn cả sáng tác.   Vả lại, một công trình dịch thuật giá trị cũng phải mang bút danh và tư thế của người dịch như một tác phẩm vậy.   Có những bản dịch của Homère, của  L. de L' Isle, Edgar Poe của Baudelaire và những chuyện Tàu, chuyện Tây của Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh và Nguyễn Đỗ Mục.   Cho nên, tôi đã muốn có một bản dịch tiểu thuyết, Notre Dame de Paris của Victor Hugo mang bút hiệu của tôi.

     Song, từ ông chủ nhiệm tờ báo  mà tôi vẫn cộng tác, đến các bạn thân, sơ của tôi, hình như không một ai muốn tôi dịch cả.   Bởi vì, theo họ, đó là công việc của những người khác. Hãy gác ngoài những lý do có thể phức tạp  của sự ân cần bằng hữu đó, tôi thầm đoán rằng, văn tôi ( loại sáng tác ) vẫn giữ được nguyên giá trên thị trường.   Nhưng tôi vẫn cảm thấy thích thú trong việc dịch văn ngoại ngữ, bởi vì sau 10 năm sáng tác liền, tôi đã muốn thay đổi.

     Đây phải  chăng là một điểm tâm lý, cái khuynh hướng thay đổi ở những ai có công việc quá lâu và quá đều ?   Hay chỉ là một thứ phản ứng đượm ít nhiều chất ngông ở con người văn nghệ sống trên đất nước trự do, trong thế giới tự do, muốn được hành động ... tự do ?


                                                             ***

     Trung tuần tháng 7 nắm 1961 , tức là 1 tháng rưỡi, sau khi tập ký ức này viết xong -- một kỷ niệm hoàn toàn văn nghệ đã đem lại cho tôi niềm vui sướng mênh mang.

      Anh Lê  Văn Trương  ( tạ thế đầu năm 1964)  vừa hoàn thành   một truyện dài, nhan đề
" Đế Thiên Đế Thích "  hay  " Lời người Tráng sĩ " đã ân cần nhờ tôi  viết bài Tựa. 

      Năm 1952, khi tôi mới  chính thức nhập tịch làng văn, với tập truyện ngắn đầu tay 
Trên vỉa hè Hànội, anh đã sốt sắng  giới thiệu tôi trên tờ báo lớn tại Hànội thời ấy là tờ
 Tia sáng.

    Cảm kích vì tấm lòng quảng đại và chân thành của bậc đàn anh, tôi không ngờ hôm nay được anh tin cậy -- để tôi có dịp tri ân, qua lề lối bằng hữu có đi có lại.   Bài  Tựa đó, tôi đã trình bày dưới hình thức một lá thư:  

                                                         lá thư đề tựa

      Anh Lê  Văn Trương , 

     Năm 1930 giữa thời Pháp thuộc, tôi đang làm một quan phán bất đắc dĩ, thì được đọc cuốn tiểu thuyết  " Một người "  của anh.   Sách tả một ông tham trẻ tuổi tên là Linh, đã nhất định xin thôi việc, để về  làm báo, chịu cuộc đời thiếu thốn, gian lao-- chỉ vì một duyên cớ bất ngờ và đột ngột.   Linh vừa bị viên quan cai trị Pháp tát một cái đến nảy đom đóm mắt.   Cái phản ứng quyết liệt cua Linh đã gây một hào hứng mới lạ cho anh  em công chức  chúng tôi dạo ấy.   Và cũng từ  dạo ấy, tôi cảm thấy yêu kính tác giả mà tôi chưa hề biết mặt.   Tưởng cần ghi thêm yếu tố thời gian : Việt ngữ mới bắt đầu nẩy nở,. ai ai cũng chuộng mê say nhà văn  có tài, một thần tượng trong quốc dân, nhất là lớp người trẻ tuổi.   Vậy thì, tôi chỉ thầm ước được quen biết thôi  và cũng không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ viết văn.   Thế mà, giờ đây không những đã được quen biết tác giả một cách thân mật, tôi lại được người giao phó  viết tựa cho cuốn tiểu thuyết mới nhất của người:

                                              DƯỚI BÓNG ĐẾ THIÊN
                                                             hay là 
                                             LÒNG NGƯỜI TRÁNG SĨ  

     Tôi cho rằng ở đời có những sự tình cờ đã được  sắp đặt bí mật của Định mệnh phảng phất đẹp như một gíấc mơ và mang điệu Tam sanh hữu hạnh.

      Dưới bóng Đế thiên hay  Lòng người Tráng sĩ  một lần nữa  , đã là môt tiểu thuyết phiêu lưu.

      Kỹ thuật viết truyện, ở anh,  là kỹ thuật nghề, sơ trường; mà quả có già dặn hơn, do thâm niên chồng chất hay hoàn cảnh mấy độ đổi thay.   Thái độ của nhân vật trước cuộc sống vẫn như xưa, nghĩa là chỉ vì luân lý, một nền luân lý cố hữu Đông phương, một thứ nhân sinh quan của" những người có lòng " v. v. ... 

     Tôi đã hoàn toàn đồng ý với Vũ Ngọc Phan trong tập "  Nhà  văn hiện đại "  , xếp anh vào loại những nhà tiểu thuyết luân lý.

     Đó, xung quanh hai chữ luân lý, tất cả bi hài của những nhân vật và có thể của cả tác giả nữa chăng ?   Bởi vì, tôi thấy thiên hạ thì thào, cho rằng văn anh không hợp thời -- có lẽ chỉ vì -- ở thời đại này cái luân lý đã không hợp thời nữa.   Và trong cuộc sống thực tế, giờ đây, hình như anh đã không gặp được những gì tạm gọi là ưng ý -- có lẽ, cũng chỉ vì cái thực tế với cái luân lý giờ đây đã mâu thuẫn ghê gớm và kịch liệt.

     Ở giờ thứ 25 này , luân lý đã bị phá sản từ lâu rồi.   Anh lại [ ở ] giữa thực tế trung thành với luân lý, thì dĩ nhiên phải chịu những bất đắc ý một cách thường xuyên.

     Song, tôi vẫn tin rằng, ở thiên hạ, chỉ là một sự ngộ nhận nhất thời và ở bước đường của anh, cái bất đắc chí chỉ là giai đoạn.   Chẳng lẽ 2 chữ luân lý lại cứ bị  chìm mãi, thì chúng ta sẽ đi tới đâu, nếu không hẳn là sa xuống vực thẳm !   Tôi vẫn tin tưởng và hy vọng  ở lẽ tuần hoàn của sự vật.   Và rồi đây, luân lý sẽ lại được đề cao vá được" khôi phục công quyền " .   Và bất luận tỷ lệ, tác phẩm sẽ thấy lại cái thời hoàng kim 1930- 1940, tác giả sẽ nhận một cách xứng đáng cái vinh quang thuở nọ.

     Là những nhà văn , chúng ta lại càng tin tưởng ở tương lai của nhân loại, của xứ sở.   Và chúng ta chắc chắn rằng một ngày  rất gần cái thiên lương ở mỗi người, một độ bị lu mờ vì hoàn cảnh và thời cuộc sẽ sáng ngời giữa cảnh thái hòa của trăm họ.

     Chính cái thiên lương trong truyện " Lòng người  Tráng sĩ "  này đã giúp  cho "  Néak Srok," trước nghịch cảnh  bi đát, vẫn giữ được thái độ kiêu hùng rất nhân loại.   Đó là tất cả ý nghĩa thiêng liêng của cuộc sống và đó cũng là giá trị vô biên của" kiếp người ".

    Cho nên, tôi tin chắc rằng " Lòng người Tráng sĩ "  sẽ được hoan nghênh một cách xứng đáng nhiệt liệt.

     Thân chúc anh vui mạnh và sáng tác và sáng tác . 

       SAIGON NGÀY 16 THÁNG 7 NĂM 1961
           TRIỀU ĐẨU  

                                                                                       *** 

     Đúng  ngày hẹn, anh Lê Văn Trương  đến nhà tôi lấy bài.   Sự đúng hẹn không ngờ này, chứng tỏ rằng anh chú ý tời bài tựa nhiều lắm.   Vừa đọc bài viết, nét mặt của anh thấy rạng nở vui tươi.

     Đến khi đọc xong , anh sung sướng và khen ầm ĩ.   Tôi mừng rằng như vậy, một phen đã tạ được lòng tri kỷ và lời ban khen của bậc đàn anh đã chuẩn nhận sự thành công của tôi, một kẻ đến sau, hẳn có đôi chút tài năng.    Chỉ một sự chuẩn nhận đó, cũng đủ thừa  đủ  để kết thúc những [ chương của ] thiên ký ức này một cách mãn nguyện và ... có hậu . [] 


- Viết xong tại Saigon  ngày 1 tháng 6 năm 1961.
- Duyệt lại, thêm, bớt - và hoàn tất [ vào ] đêm  27 tháng 6 năm 1967 
tại cư xá Trương Tấn Bửu  Saigon ( 20 tháng 5 năm Đinh Mùi ) 

   triều đầu 

( Đại Nam văn hiến xuất bản, Saigon  , tháng 10 / 1968 ) - tr. 109 - 115 ) 

------------
* (...) xin lỗi tác giả, Biên tập tạm lược bỏ.
* [ ... ] chữ của Biên tập. 

Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

triêt học của nietzsche - bài : nguyễn an ninh -



 Lời dẫn :

       "... Sau khi ôm bằng Cử nhân Luật ở Pháp về, thay vì vào làm quan to với Pháp, như thường tình du học sinh Việtnam thời đó, rồi cưới vợ giàu, một đời hưởng lộc, ăn trên ngôi trước, vinh thân phì gia.   Trái lại nhà ái quốc NGUYỄN AN NINH  chỉ mang một ý chí tranh đấu quyền lợi, cởi ách nô lệ cho dân tộc, tìm đủ cách gần gũi người dân, gieo tinh thần ái quốc chống xâm lăng ngoại bang, bằng cách : nào diễn thuyết, viết báo, viết sách, phổ biến tư tưởng vào quảng đại quần chúng hạ tầng.   Nhờ sự kiện này, mà dân chúng được  giác ngộ rất nhiều, nhứt là vùng Hóc Môn, Bà Điểm, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho, Bến Lức
 v. v. ...

      Nhiều cuộc biểu tình bạo động thường xảy ra trong thời ký đó, nhiều cuộc mít-tinh được tổ chức chu đáo, đói hỏi quyền dân với nhà cầm quyền Pháp, tại rạp Casino Dakao
( 31- 1- 1926), tại Vườn Xoài Bà Lớn  ở Xóm Lách ( 21 - 3- 1926 hiện giờ là đường
Đoàn Công Bửu .

     Để rồi, nhiều lần vào tù ra khám, cho tới ngày chôn xác dưới vùng đất lạnh, ngoài vạn dặm trùng dương Côn Đảo.

      Văn chương của nhà ái quốc Nguyễn An Ninh, bằng tiếng Pháp, hoặc tiếng Việt đăng trên bao La Cloche Fêlée ( Chuông  Rè ) , Donnai, Trung Lập v. v. ... hoặc trong sách, có một lối hành văn gọn gàng, viết văn xuôi như làm  thơ, nhịp nhàng như tấu một bản nhạc, có tiếng ngân như chuông ...

     Các bạn của Nguyễn An Ninh bấy giờ cho Ninh có lối hành văn giống triết nhơn NIETZSCHE, thần tượng của SIÊU NHƠN .   Bởi đó, Nguyễn An Ninh thich dịch những bài
 luận về triết của Nít-Sơ, như bài báo  dưới đây đăng trên tuần báo Donnai vào năm 1933 - số 31 - do Phan Văn Hùm chủ trương biên tập . *

      PHƯƠNG LAN - BÙI THẾ MỸ . 

-----
*  NGUYỄN AN NINH 1899- 1943: NHÀ CÁCH MẠNG / PHƯƠNG LAN -BÙI THẾ MỸ -
    ( Saigon, 1970 - tr. 34 ) 



                                        triết học của nietzsche
                                                      nguyễn an ninh


  " Từ mười mấy năm nay , trong thanh niên ta có vài người  nói đến F. Nietzsche ấy là một điểm tốt.   Vì các bạn thanh niên ấy đang tìm đường để thoát  những sự trói buộc của một xã hội không còn hợp với sự tiến bộ ngày nay nữa.   Nay vì phong trào Hitler *  ở Đức , ở bên Âu châu, có kẻ nói: " Hitler thực hành những tư tưởng của Nietzsche tuyên bố đã hơn 40 năm nay".  Léon Daudet trong bài " từ Nietzsche đến Hitler " , mà bọn thanh niên ta phải để ý tới tư tưởng của Nietzsche, ấy là một điểm tốt hơn nữa .  Vi nhờ có cái dịp Hitler nầy, thanh niên ta có thể hiểu rõ một cách tường tận toàn cả lý thuyết của Nietzsche, chớ không phải  chỉ chú trọng vào một giải phóng cá nhân như xưa kia, mà sùng bái một cách sai lầm.   Ở Âu Châu bất lựa Anh, ở Đức, ở Pháp, ở Ý, v. v. ... trong đám thanh niên bourgeois phần đông đều al yệu qui Nietzsche , như thánh, đều là thuận với tánh chất với hoàn cảnh, với quyền lợi của họ.   Thanh niên ta cũng nhờ lý thuyết của Nietzsche như thanh niên bourgeois ở Âu , thì thật là mâu thuẫn.   Tôi xin giải thích một cách tóm tắt.
------
* nguyên bản viết Hilher. 

      F. Nietzsche  là một nhà triết học Đức sanh năm 1814, chết năm 1900, khi chết ông ta điên.   Người ta nói F. Nietzsche mắc bệnh tiêm la ; Mà điều này là chắc ông ta đau dạ dày, đến nỗi nhiều ông thầy thuốc tưởng lầm là ung thư.   Tôi không phải nói những  những bịnh của Nietzsche ra là , theo thói thường của người mình, cốt nói xấu cho ông ta.   Nietzsche có nói :

     " Trong đám văn sĩ chỉ có Dostoievsky là người mà tôi nhớ nhiều lắm.   Mà Dostoievsky lại nói : " Tôi nhớ  cái bịnh của tôi nhiều lắm. " ( Dostoievsky mắc bịnh kinh phong ) Nietzsche đau mũi mà lại dùng những thứ thuốc làm say ( narcotique )  thần kinh  hệ của ông ta cảm gíac một cách lạ thường.   Suy xét sâu xa, văn chương như giục, như lôi người ta, chắc là nhờ đó.

      F. Nietzsche có đi đánh giặc Pháp Đức năm 1870.   Lúc ấy hết sức binh vực nước Đức.   Nietzsche quả quyết rằng dân Đức có trách nhiệm làm chủ, làm thầy của nhân loại.

     Dân Đức trước kia phải bị dưới quyền của Napoléon vẫn còn nhớ mãi cái tủi nhục ấy.

     Qua 1870 Đức thắng trận trả được thù xưa, lại được đền bồi hai tỉnh Alsace Lorraine là hai tỉnh giàu sắt, rất trọng hệ cho sự phát đạt của xưởng kỹ nghệ Đức.   Làm sao trong óc của Nietzsche không sinh  ra sự kiêu ngạo như trong óc của cả một người trong dân Đức khi ấy !  Song nhờ trận  giặc nầy mà Nietzsche mới khởi đầu suy nghĩ ra thuyết " Le bon européen ". 

     Khi Nietzsche mới xuất bản quyên sách " Bên kia của sự thiện ác " .   Thì có một tờ báo Đức  mừng là một điểm mới, nói rằng lý thuyết của Nietzsche là lý thuyết của đám đại điền chủ của Đức  ( Philosophie des h  beranx ( sic )   là một giai cấp  của một thời đại phong kiến ( Féodalioté)  còn để lại,  như gia quyến của hoàng đế Guillaume, như tổng thống Hindenburg , Von Papen,, v. v. ... Tuy là Nietzsche không chịu nhìn nhận lời phê bình của báo ấy cho kỹ, song xét cho kỹ , thì cũng không phải là sai mấy.    Mà cái tên thánh Frédéric kia có lẽ Nietzsche cũng vẫn nhớ rằng cha của ông đặt để kỷ niệm một nhà vua trong họ Honlen Sollern.   

      Lấy tư tưởng  của một anh Bourgeois libéral, bôm vào cho đầy  cái hơi kiêu ngạo cực điểm, rối lấy văn chương của quyển Zarathoustra, cái giọng tiên tri của thánh Jean Baptiste mà vào cho nó thì là cái thuyết " Siêu Nhơn ".  ( Le Surhomme )  của Nietzsche chứ gì !   Một nhà văn Đan Mạch ( Danois ) kêu lý thuyết của Nietzsche là Radialisme aristocratique.   Sau 1879 giai cấp tư bản ở Pháp  phá được những điều trói buộc của thời đại phong kiến, bước lên con đường tiến hóa như dài như rộng vô cùng.   Kỹ nghệ càng phát triển , con người càng rộng tính toán  tự do,  thì lại thấy xã hội càng thêm mở mang.   Vì vậy cho nên, về mặt kinh tế tự do chủ  nghĩa ( libéralisme )  được hoan nghênh ( laisser faire passer )  tự do sinh sản, rồi tự do  nhập cảng, xuất cảng.   Mà về phương diện tâm lý của giai cấp thâu lực lượng được sanh sản của xã hội vào tay thì cái quyền tự do cá nhân cũng là vô hạn chế.

    Mã thị có nói :" những tư tưởng phổ thông trong một xã hội là những tư tưởng của hạng người nắm quyền xã hội ấy vào tay ."   Vì vậy cho nên  cái thuyết cực điểm cá nhơn của Nietzsche không phải là khó tìm ra nguyên nhân của nó.

     " Cái mà kêu là dân tộc là một cách đi vòng của tạo hóa để sanh ra một vài vĩ nhơn"
 là câu của Nietzsche .  

     Mã thị có nói  : " Xưa kia sự bóc lột kẻ nghèo còn mặc cái áo tôn giáo và chính trị.   Nay sự bóc lột hoá ra trực tiếp tàn bạo rõ ràng hết còn e lệ nữa.  Nó không muốn cho sự giao tế giữa con người còn một sự ràng buộc gì khác hơn là sự tư lợi rõ rệt,  trong ấy không có chỗ nào cho sự cảm tình."   Nietzsche hết sức đánh đổ luân lý, dạy Siêu nhơn phải là người vô luân lý 
( amoral ) lắm khi phải là nghjch với  luân lý " Immoral ". 

    Mã thị có nói: " Trong xã hội ngày nay có điều xu hướng nầy : càng ngày càng lộ ra chỉ rõ còn có  hai giai cấp trọng hệ thôi.   Nietzsche dạy rằng có hai luân lý : luân lý của đám làm chủ, luân lý của đám làm  nô "   [  lệ  *  ] 
----
* [ ...* ]  chữ của biên tập. 

     Mã thị và Nietzsche đồng hoan nghinh lý thuyết của Lamark của Darwin    Tranh đấu đặng sống. .  Tranh đấu vơi loại sống, tranh đấu với hoàn cảnh.   Nietzsche dạy" Siêu nhơn" phải ở xa " bầy người phải cứng lòng, phải không biết thảm thương, phải đủ các phương để giục mình cho mạnh ".  Một người học trò trứ danh của Mã thị cũng có câu này : " Trong một cuộc hỗn chiến dữ dội như thế nầy, không thể giữ cho ta lòng nhơn.   Phải đập đầu và đập không nhơn tay.   Cho đến những kẻ mà ta muốn cứu kia, mà chúng nó còn trở lại cần
 tay ta !"

     Tôi có thể còn lấy nhiều tư tưởng của Mã thị và Nietzsche để đối nhau.   Vì cả hai đều là đồng thời, cả hai như hai cái kiếng đồng rọi một xã hội, nhưng  vì hai người đứng về hai phương diện chọi nhau.

     Nietzsche đánh đổ hình ảnh thượng học ( métaphysique ) , đánh đổ tôn giáo , mà trong ngày cùng, lại xướng lên cái thuyết tuần hoàn  ( sự trở đi trở lại vô cùng / éternelle retour ) .
Nietzsche không chịu rằng mình trở lại với cây đa cũ bến đò xưa .   Song nếu xét cho kỹ thì cái thuyết " ồ ồ bắt rắn cắn đuôi " chỉ là  một cái lực lượng chạy vòng  tuy cũng động, song kỳ thật là vô tiến hóa, là chết.   Thì có khác gì sự tin rằng Trời, có một ông Trời tuyệt hảo, nghĩa là không còn tiến hóa được nữa. " Tout  est pur le mieux  dans le meilleur des mondes possibles ".   Rồi kết luận  là phải giữ chặt cái tình cảnh hiện tại để làm trường kinh nghiệm cho sanh ra những " Siêu nhơn ".

    " Trời đất bất nhơn lấy muôn vật làm cỏ chó.   Thánh nhơn lấy trăm họ làm cỏ chó " 
     ( LÃO TỬ )

     Cái thuyết " trở đi trở lại vô cùng  * "  của Nietzsche   là một cái vòng tròn , một miếng đất bằng  cho ( siêu nhơn ) nhảy múa.   Còn Biện Chứng Pháp  của Mã thị như một đường vòng vặn khu ốc, tiến hoá vô cùng . [] 
----
*  những chữ in nghiêng hoặc đứng do Biên tập sắp xếp . 

         nguyễn an ninh 

( NGUYỄN AN NINH 1899- 1943 : NHÀ CÁCH MẠNG / PHƯƠNG LAN- BÙI THẾ MỸ -
Saigon 1970- tr.  35 -  39).