Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

nhà văn tác phẩm cuộc đời / thế phong - 19


                    nhà văn tác phẩm cuộc đời 
                                                              tự-sự-kể: thế phong

                                                                       8

    Giáng sinh 1962 tôi lên Dalat.  Tập thơ Trước mắt nhìn thi sĩ phản ảnh tâm trạng gần nhất trong ngày tháng qua.  Cảm ơn một vùng cao nguyên đẹp dưới mắt tôi lần đầu.  Cuộc sống tranh rác ỡ Ngã tư Bẩy hiền, nơi chúng tôi ở, sự giành giật từng miếng rác còn thừa của Mỹ kiều đổ.  Chúng đánh nhau, chúng chửi nhau, chúng bán sự trinh tiết để thu hoạch đồng tiền mua cơM,   áo -  thôi thì đủ hết thứ  cần thiết con người cần nhu cấu sống.   Riêng gia đình bác Phạm quang Huyến, từ khi di chuyển tới nơi này , ngoài sự  kiếm sống còn phải đối phó  với  bao kẻ thù xung quanh. Từ   anh binh nhất Không quân thầu rác Mỹ đến nhà hàng xóm muốn chiếm đất đai dựng nhà bán  kiếm lời, trên mảnh đất chúng tôi mới tới .  Nhớ lại, hôm nào, bác Huyến gọi tôi lên uống trà, ấy là khi còn ở  xóm đạo di cư Tân Chí linh - cho biết - có 2 căn nhà ở trên  Bẩy hiền này  rất dễ  chiếm , vừa được ở vừa có nguồn lợi sống.  

      Tôi không còn ở tuổi 20, nay đã có kinh nghiệm cuộc sống rời, những gì tưởng dễ ăn không hẳn ngậm vào miệng đã là ngon !  Và cũng không phải dễ  giành giật như mình tưởng. tượng.  Tôi viết những chi tiết kia trong một truyện ngắn -  Khu  rác ngoại thành  - từ  lúc mới dọn nhà tới mệt nhọc biết bao khó khăn- tôi nói đùa, chẳng khác gì những người Mỹ đầu tiên tới lập quốc ở miền Viễn Tây vậy.  Những nỗi eo sèo, tranh giành, cướp giật, đĩ điếm; thôi thì trăm cảnh bẩn mắt diễn ra, mà không thể bịt mắt, che tai mà coi như không biết.

       Anh lính tàu bay bao thầu rác của Mỹ, nói là rác thôi, nhưng toàn đồ tốt cà,  nào bàn tủ, ghế còn mới, so với  giá thị trường bên ngoài  mua bán đáng giá  nghìn đồng.  Có khi, lính Mỹ thảy ra những miếng cạc-tông lớn, bán ra ngoài được 2, 3 trăm đồng / miếng.  Cứ môi lần, tôi nhìn thấy vỏ rốc-kết chất ngoài  trước nhà cao bao nhiêu, dân  chúng  càng chết nhiều bấy nhiêu !  Những nông dân, thanh niên, phụ nữ, trẻ con, mồi ngon  của những trái rốc-kết.    Mỗi  lần  anh lính Mỹ  lái xe GMC đổ rác, được sự mời mọc giải lao bằng bia, coke + sự săn sóc chu đáo tận tình  từ  vợ anh lính tàu bay.   Anh chồng đem vợ ra  làm  mồi câu lính Mỹ  đổ rác trước sân nhà ,  tôi thấy anh ta  chẳng thấy tha thiết  gì tới vợ   , khi cô nàng cười tình ,  còn anh  lính Mỹ  ôm vai, sờ nhẹ đôi nong lương , thi  cô nàng lại khúc kha khúc khích.  Ban đầu, tôi thắc mắc, sau biết,  người đàn bà được gọi là vợ anh lính tàu bay kia , trước , xuất thân ở xóm  điếm Lăng Cha Cả , thì  chuyện đưa  đàn bà làm mồi câu nhử, hẳn chẳng  còn gì là ngạc nhiên !

     Giai đoạn sau khi anh Huyến cùng anh lính tàu bay  tranh chấp, anh lính tàu bay phải dọn nhà đi,chúng tôi thắng cuộc ở lại   - thi câu chuyện vợ anh lính tàu bay được  kể lại, thêm nhiều chi tiết ly kỳ như huyền thoại.   Anh lính tàu bay hợp đồng  với một  trung sĩ Huê Kỳ:
        "...mày để xe mô tô Harley cho tao vượt gió trên đường  đi làm  thì  mày được quyền  làm chồng nàng vi vút  trên giường  "

     hình ảnh anh  G.I  và anh lính tàu bay việt dưới mắt tôi :

                            .... phía bên kia  dãy nhà chúng tôi ở xa xa hơn
                                 chuyện lạ đồn thổi , thực hơn tờ báo nhược tiểu quốc loan tin 
                                 xe mô-tô Harley 2 xi-lanh lao vút trên đường tới phi trường
                                 chiếc mô tô đàn bà việtnam   mông vằm,  vú to, ngực nở
                                 đàn bà  xe một xy-lanh biết nói  đang lao vút trên giường
                                 hai thứ hàng được trao  đổi  huyền thoại chuyện thần tiên
                                 anh lính tàu bay  nhược tiểu thích sang trọng  tự mang  lon 
                                                                       thích trưng diện
                                                                                    cần mô tôi hơn đàn- bà- vợ.
                                  hiệp ước ký kết   : 2 bên  đều quan tâm  và  cùng  có lợi
                                 giờ  đi làm,  trung sĩ Mỹ được sử dụng mô tô trên giường
                                 ngược lại,  
                                           lính tàu bay Việt Nam 
                                                        cưỡi  xe Harley lao vút trên  đường 
                                lắc đầu lia lịa 
                                                    bạn bè hỏi 
                                                                  mua bao  nhiêu được làm chủ 
                                                                        xe Hạc-lây  đẹp  quá chừng chừng  ! 
                                anh lính tàu bay kể  
                                                tích  chuyện táo quân  2 ông chỉ có một bà tụng truyền
                                 người con gái 18  văm -pia 
                                                     ngực bồng,  eo thon , mông nở
                                                             cười nắc nẻ ,
                                                                         ho rũ rượi
                                                                                    hiểu ra rồi  
                                                                                       thế nào là  ái tình  việt mỹ thực dụng !
                                nước uống, nước mưa, nước mắt, nước trà,  nước sinh lý
                                đều là nước 
                                                lấy nước rửa  nước  
                                                              để nước nguyên hình là nước sạch
                                         THƠ LÀM LỚN DẬY CON NGƯỜI   / THẾ PHONG.

    tập thơ này tôi làm  vào thời gian  trước đảo chính Ngô đình Diệm vào tháng 11 năm 1963.   Những bài thơ  gần như là phản ảnh gần gụi nhất với cảm nghĩ của tôi bấy giờ đối với  bối cảnh xã  hội.   Nào là, lo bị bắt, những người bạn ở gần, hoặc , đa số đều bi chính quyền Diệm bắt nhốt .

      Đại úy Đinh thạch Bích   * , một người bạn đã cho tôi  đánh máy  nhờ cuốn sách Nhà văn hậu chiến 1950- 1956,  kỳ tái bản, cung cấp giấy xáp , mời  uống dintôníc - mà tôi chối từ -  rồi biện bạch không biết uống rượu,  thì ông bạn kia bảo :
         " ... chắc mày nghĩ đến 150 $ có thể mua được 5 ram giấy duplicateur in sách rô-nê-ô chứ gì ? "

      rồi Uyên ThaoThắng cũng bị câu lưu tại Tổng nha Công an.  lại nghe tin anh Nguyễn đức Quỳnh  cũng bị bắt giữa đường , sau khi đi hớt tóc.  Lại nữa,  tôi ra ngã tư  mua thuốc lá, gặp 1 anh bạn trẻ đang tập tọng làm văn nghệ, làm công an viên đi xe Mô-by-lét xám  dẫn tôi  đi uống cà phê.  Chủ quán cà-phê Thăng Long  :  "... sao nhà văn cao bồi nhất Saigon chưa  bị tóm à ?"   Câu hỏi ông Cẩn  hỏi cách  chơi chơi  -nghe xong -  tôi bấm bụng, chắc lát nữa khi anh ta đưa tôi về, đành phải nói trước là hay nhất " nếu anh muốn  bắt , thì cứ tự nhiên".   Anh công an viên này lắc đầu trả lời,  không phải vậy đâu , đừng lo !

     Lo lăng chất chồng, hay là đi Đà Lạt chơi cũng là một cách lánh mặt.
---
*  được giải Văn chương toàn quốc, qua vở Ái tình Bôn-xê -vích - và  là  thứ trưởng bộ Chiêu hồi,  hiện nay  ở Mỹ.
 ( TP chú thich sau

                                                                                        ***

    Con cho Lili luôn luôn theo sau tôi . Nó là một kỷ niệm giữa tôi và nó, ấy là lần lên Dalat cuối 1962, lẩn đầu tiên tôi  biết  thế nào  là  đất của  Hoàng triều cương thổ.   Tôi nhớ rất rõ, khi từ Cà -phê Tùng trở về, trên đường Hàm Nghi, gần tới Nhà thờ Tin lành Dalat, gặp nó vẫy đuôi , như quen từ lâu.  Tôi đưa bàn tay, nó liếm, tôi bèn  vuốt ve  lưng nó, tấm thảm  tro màu xám .  Nó theo tôi không dứt, đuổi thế nào, nó cũng  vẫn đi theo.  Cởi thắt lưng da, tôi xích cổ nó dắt  về . Biết là chó cái, mộtsinh viên đi cùng can :  chó cái thì nuôi làm gì ?  Tôi không nghĩ thế. Tôi đưa nó về Saigon, thế là anh Huyến chủ trọ không chỉ nuôi mình tôi mà lại thêm  con chó cái  Lili :

    "... Mỗi khi tôi  ra rừng cao su gần nhà, nó theo tôi  như con Lu lu trắng ( chó chủ nhà ). Chúng nó  rất vui , vẫy đuôi lia lịa.  Tôi trèo lên cây cao su, rễ cụt  nằm ngả người để đọc   những trang sách  mới nói về cuộc sống, thế nào là xã hội thực thụ  ở Nam Tư  , tác giả Milovan Djlas - nó cũng  nằm  ở gốc cây như canh gác cho tôi.   Đó là con Lili.  Tôi ve vuốt vá thương hại nó, lần nào đó cách đây  ít ngày nó bị ốm tưởng là chết.  Là vì, tôi gặp nó thường ra đứng ngóng mỗi chiều ở ngã tư , như để đón ăn hoặc làng thang ngong đón đực thì phải.   Tôi gọi nó về,  cầm cái  gậy lớn  đánh nó đâu 4, 5 cái thật đau. Nó kêu ăng ẳng chạy ông tuốt, tưởng nó sẽ không trở về.  May mà chiều tối nó  trở về,  lê chân sau thật thảm, hóa ra nó bị trụy thai-  tưởng lần  này -  phải đào  hố trong rừng cao su chôn nó.  Tôi rất ân hận khi nhìn thân xác  gầy nhọm đi, và  dử mắt nhoèm 2 bên mi, nó yếu quá, vẫn theo tôi,  và không thể trèo lên gốc cây cao su như mọi lần. 
     Tôi không đủ tiền, nên không biết có cách nào đưa nó đi chữa chạy, thôi thì đành phó thác mạng  cho định mệnh an bài.  Nó không chịu ăn cơm và tôi đành phải bóp bụng mua cho nó một hộp sữa đặc pha hàng bữa, lúc đầu  nó chỉ liếm láp sơ sơ.   Nhưng ít  ngày sau nó hồi lực và bây giờ thì khá rồi.  Tôi mừng mãi.  Và từ đấy, nó không dám ra đứng ở ngã tư như xưa nữa.  Tôi nhìn nó , tự nhủ : đới sống khốn nạn này không cho phép tôi đi làm để kiếm  đủ miếng sống cho bản thân và nuôi thêm người bạn đường :  một con chó cái ...*
------
*  Khu rác ngoại thành / The rubbish tip outside the city / The Phong - translated by Đàm xuân Cận .
   nxb Thanh niên Hànội tái bản,  2006.  

     Lili còn  là nguồn cảm hứng cho tôi làm thơ, tôi tặng nó một bài :

                               ... Một con chó  lạ tiễn chân tôi rời núi rừng Đà Lạt
                                   theo chân tôi về thành phố man dại bỏ  lại phía sau 
                                   một con chó cái âu yếm liếm bàn chân tôi phiêu lưu
                                  dường như nó quyến luyến thương tôi quá nhiều đơn độc
                                   nằm dưới chân tôi cả phút giờ quạnh quẽ tâm hồn 
                                  tôi làm thơ mô tả cuộc sống thế kỷ này bon chen
                                  những giáo mác tua tủa xâm độc nhằm phía tôi lao bắn
                                  tôi đặt tên cho nó như  tên nàng ca sĩ đợt sóng mới Lili  
                                  tôi vuốt  thảm lông xám tro như tóc người yêu bỏ cuộc 
                                  tôi leo đường dài đổ dốc có bạn huyền đề  bốn chân
                                  tôi  người chủ trãi có kẻ săn sóc trại vườn
                                  khí giới có tâm hồn định đọt kẻ thù của chủ 
                                  tôi bị bội phản nên vô cùng quí chó 
                                  tôi nhiều tình thương nhân bản nên quí các em bé
                                  tôi đầy khôn ngoan nên không mưu trưởng giả 
                                  tôi có nhiều nhiệt tình nên quí mến tuổi thanh niên
                                  tổ quốc chúng ta hôm nay phủ ngập rừng chông
                                  lòng yêu nước các anh cần sự canh chừng loài chó 
                                  các anh ngửng mặt lên cao và đừng ngã đó ...
                                                 TRƯỚC MẮT NHÌN THI SĨ / THẾ PHONG

    Đôi khi tôi kể chuyện về  Lili cho anh em nghe, có người, lại cho tôi là khinh thị con người.  nhưng làm sao được, khi mà loài vật rất trung thành và  hãy  nhìn  Lili thì biết.  Không giận tôi đã đánh nó, không hẳn là nó dễ quên; vì mỗi lần tôi bắt gặp nó lởn vởn ở gần ngã tư, tôi hét lớn gọi nó, lập tức nó chạy đi ẩn náu, lát sau mới thấy nó về.  Hoặc, nó thấy tôi  gọi  với dáng điệu ít gay gắt, nó cụp đuôi chạy về, nem nép nằm một chỗ, mắt đen láy ngước nhìn lên, khi thấy tôi tới gần.  Nó rất luyến  mến chủ, nghĩa là không bội ơn, man trá, lại biết sợ lẽ phải.  Ý định làm sáng tỏ sự thực loài chó thông minh, trung thành; tôi viết rất say sưa,  lại hợp tình, hợp cảnh, cảm thông nhân bản loài chó trong truyện Con chó liêm sỉ * .  Không sao được, khi mà, loài người, có kẻ như thế này:

----
*  trong tập truyện  Khu rác ngoại thành / The rubbish outside the city / The Phong  - translated by Đàm Xuân Cận - nxb Thanh niên  Hànội tái bản,  2006. 

                        ... bạn bè tôi trưởng giả áo quần tây phương chau chuốt
                           mùi thơm vẻ đẹp, lời ngon ngọt, giọng vô cùng bặt thiệp
                           đã chào bán rẻ tổ quốc chúng ta không bằng  hiệp ước 
                           những dòng chữ viết con kiến nào, mẫu tự nào truyền đạt đến tay
                           là bán đứng khổ đau chúng ta ngọt hơn đường hóa học
                           những kẻ ấy, chúng nó bán tổ quốc và cờ chúng ta cùng một lúc
                           rồi cao chạy xa bay, chúng ta chậm chân  tiến  sau tàu bay 
                           chúng nó đi rồi, ở trên bầu trời, làm sao theo kịp
                           lý luận dễ hiểu,
                                      ngoại nhân không cần mang máy chụp hình
                                                   nhưng  mẫu tự bắt đấu  chuyển vần sang vần trắc ...
                                          THƠ LÀM LỚN DẬY CON NGƯỜI / THẾ PHONG

    Không sao được, nhiều nhà văn thơ trên thế giới, từ đông sang tây, tự cổ chí kim ,  chỉ viết về loài người mà có bao giờ hết bất công trong xã hội đâu ?  Nên, tôi đã chấp nhận nhân sinh quan con người tiến bộ và nhất là  người làm văn nghệ phải nhận định được chiều hướng nào để theo, đỡ  làm khổ bản thân -  bởi -  một khi thấy bất công, xấu xa càng nhiều, mà công việc làm như muối bỏ biển,  ném cát vào sa  mạc :

    " Eugene Evtouchenko  *  đưa ra ý kiến- với ông -  thì chẳng có gì  gọi là quốc gia cộng sản.  Chỉ có người tốt xấu, ông ta đứng về phía công dân tốt tranh đấu cho  xã hội hoàn vũ để số người tốt tăng mãi lên.  Song, chúng tôi quan niệm.  Rằng, 30 vạn năm nữa, thì người xấu vẫn chưa thể hết, nói thế, không có nghĩa là chúng ta đành bó tay.  Nhưng chúng ta phải biết thế mà vẫn tranh đấu. Những người xấu sẽ ít hơn độ xấu ở thế hệ sau  và sẽ  được  người tốt kháng đối, tiêu diệt tiếp theo   cái xấu ấy  ..."
----
*  lời  vào dề cho sách  EUGENE EVTOUCHENKO : NHÀ THƠ & CUỘC ĐỜI.   Bản việt ngữ :  Đường bá Bổn,  Đại Nam văn hiến xuất bản  ,  Saigon 1964 .  
    lần tái bản thứ 1  do nhà xuất bản Đồng Nai cấp phép năm  2004  -  bản dịch được thay   tựa :  EVTOUCHENKO : HỒI KÝ VĂN CHƯƠNG VIẾT SỚM  ( in chung  MAIAKOVSKI & MỐI TÌNH CÂM  /   ELSA TRIOLET  / Thế Phong dịch .
( chú thích sau)   

    Không sao được ,  khi loài chó còn biết nghĩa nhân, không phản bội, lọc lừa - mà  nhà văn thơ còn thưa thớt viết về chúng nó.  Và nhất là, khi tôi có  chúng  ở bên,   chúng cấp  cho tôi tư liệu sống cần thiết cho sáng tác.  Chúng nó  rất  đáng được bảng vàng, bia đá, bởi, chúng giúp cho  con người xây dựng xã hội này tốt đẹp.   Một chú  chó trong thế chiến thứ 2 có nghĩa với chủ, như một  chuyện nào  làm tôi cảm động mãi mãi vẫn chưa nguôi.  Một chủ, nuôi con chó ở bên , 2 buổi chủ đi làm, nó theo chủ đến bền xe buýt.  Tan sở, chủ ra bến xe buýt về nhà, đã thấy nó  vẫy đuôi đợi.  Rồi  chiến tranh.  Chủ nó chết vì bom đạn nơi sở làm.  Nó vẫn đợi, hai buồi đón chủ ở chỗ ngày xưa vẫn đợi chủ đi và về.  Và ngày này sang ngày khác, tháng qua năn, nó vẫn đợi ỡ chỗ bến xe buýt, nhưng không có lần nào  gặp chủ.   Mắt nó nhoèm đi, đầy nhừ ,  vì già, vì ăn uống thất thường,  vẫn chờ đợi chủ  và chết  đợi chờ trên bến  xe buýt quen thuộc. .

    Không sao được, khi loài người còn cảnh này : đàn bà vội xé khăn tang khi chồng qua đời trong chiến tranh , thù ghét loài chó trung thành.   Nhà chúng tôi trông ra đường lộ lớn, nối liền Ngả 4 Bẩy hiền tới sân bay Tân sơn nhất, Nhà thương Cộng hòa,  trục nối liền  sang  miền Đông, về  miền Tây.    Và rất nhiều đám tang thanh niên  phủ  quốc kỳ trong cuộc nội chiến, tôi viết:

                       ...Phía hông nhà chúng tôi , gian nhà bầy giướng trận 
                         không còn lối đi vào, ngòng ngoèo như đường hầm
                         những  cô vợ lính đến thuê, không làm gì, ngoài ngủ 
                         chồng họ từ lâu ngoài mặt trận vẫn chưa về
                         tờ nhật báo  loan hàng ngàn thanh niên bỏ thây,
                                                                 phơi thịt ngoài trận địa ...

                        Tiếng khóc xé tan như mảnh lụa đầy âm thanh hỗn loạn 
                        bệnh lý dâm loạn từ đây phát thanh bằng miệng  
                        một ngàn binh sĩ Việtnam hy sinh từng  ngày                      
                                                      trong khi địch tử trận  4 lần hơn ... 
                        mảnh giấy báo nội hóa chóng úa vàng dán đầu giường trừ ma quỉ...

 .                     Đường lộ nhà tôi, ngoài kia, buổi sáng
                                                         có kèn đám má gióng trống 
                       sáng sáng, chiều chiều, chiếc xe nhà  đòn 
                                                        không tang quyến theo sau
                       ai qua đời, buổi sinh thời,
                                                     đời sống ra sao chết buồn lặng lẽ
                       thanh niên,
                                        phải rồi, các bạn chết đi
                                                   , cờ tổ quốc phủ quan tài
                      thiếu phụ 
                                       môi hồng đã vội xé khăn tang
                                                        cưới tình nhân mới
                      đứa con cùng mẹ, khác cha, 
                                         thảm kịch gia đình nào đây,
                                                      trong tương lai 
                      và rất ghét loài chó trung thành, 
                                            của loại đàn bà đa tình...
                                THƠ LÀM LỚN DẬY CON NGƯỜI / THẾ PHONG

     Cứ gì  phải là bây giờ mới có cảnh này, xưa kia, Trang Tử đã từng  thử đàn -bà -vợ trong cảnh quạt mồ, mong cỏ chóng mọc, mọc rồi đi lấy chồng mới .  Và bài thơ  của hình ảnh đời sống   của nồi da nấu thịt đã  3 tuổi lửa, tính từ năm 1965- khi quân đội Mỹ đưa quân vào Đằ  Nẵng cùng với khối  vũ khí đạn dược nhiều như núi, tàu bay , xe tăng, trực thăng,  dạn pháo -  chiến cuộc này càng ngày càng tàn khốc , số phận thanh niên chết đi càng nhiều gấp bội phần.

    Ngày 7 tháng 7 năm 1963, nhà văn  Nhất Linh tự tử,  nghe tin, tôi buồn lặng người.  Nhưng, tôi rất mừng cho đàn anh văn nghệ đã biết chết rất đúng lúc.  Sau này, con trai  đàn anh, bạn Nguyễn tường Thiết
 ( 1940 -       )   tới  nhà, hỏi tôi ý kiến: có nên ra báo  vào thời  kỳ  chính phủ Diệm  đang bót nghẹt họng dân chúng không ?   Tôi khuyên bạn  chưa  nên...  Và tôi làm 1 bài thơ đúng  vào  ngày thứ  49. -  đưa tang chủ soái Tự lực văn đoàn -  hình như -   một số không đi đưa tang, tránh l đôi mát cú vọ công an chìm dòm ngó.   Lần gặp luật sư Nguyễn tường Bá ( 1932 -      )   ở  nhà hàng Thanh Thế , hỏi , tôi có đi đưa tang ông Nguyễn tường Tam? ( 1907- 1963)   Trả lời : -  không bận, không đi,  tôi sợ công an - song, có thể tới  vào ngày cầu siêu 49 ngày -  lời hứa là hứa cuội -  vì thế -   bài thơ này ra đời vào ngày ấy ở quán La Pagode : 

    .                           .. Rồi , một chiều thong dong, ăn vận áo quần chỉnh tề  
                                  ngồi gác chân, hách dịch, gọi bồi mang tách cà phê buổi sáng
                                  tôi chống đối tôi, con người trưởng giả biết sử dụng đồng  tiền 
                                  tờ báo hàng ngày đâu rồi, lơ đãng nhìn, tâm hồn tôi phiêu du
                                  sóng nhạc tự do  vượt biển tới đây của người phương tây
                                  người Á châu ý thức gì, chung quanh mình, chông gai chịt chằng 
                                  có một âm thanh hắt vào óc tôi lạnh buốt kim
                                  nhà- văn -Nhất- Linh-uống-độc-dược-chết-đêm-bẩy-bẩy
                                 tờ nhật báo cho lên hàng tít đầu những hàng dài tiểu sử *
                                 một đôi câu phù thủy chữ náu ẩn làm tôi chau mày 
                                 lý do nào minh chứng cho văn chương Á châu tượng trưng 
                                 tôi bỏ tách cà-phê buổi sáng uống dở chừng vào buổi chiều 
                                 bâng khuâng nhớ nhà văn không còn ngoài đời mãi mãi
                                 bài thơ
                                         trong tập THƠ LÀM LỚN DẪY CON NGƯỜI 
                                 mang những số  7 7 dương lịch,  năm một chín sáu ba 
                                         7 rồ 7 ngày thứ 49 tính theo âm lịch, 
                                                             Nhất  Linh đi  đời nhà ma 
                                 kẻ nằm trong mộ 
                                                lại  cầm vận mệnh những người còn sống.
                                             7 & 7  - & RỒI 7 .
                                                 THƠ LÀM LỚN DẬY CON NGƯỜI /   THẾ PHONG 

-----
 *  điểm qua các tờ nhật báo, tuần báo, tạp chí mà tôi đọc bài chiêu niệm Nhầt Linh, mạnh bạo nhất chỉ có nhật báo Đồng Nai ( chủ nhiệm: Huỳnh thành Vị )  đã cho cái chết nhà văn Nhất Linh để chống  độc tài .  
      (  ông  Ngô đình Diệm lên nắm chính quyền là ngày 7 tháng 7/ 1954  -  từ ngày đó -  7 tháng  7 coi như kỷ niệm lớn của nước Việtnam cộng hòa. (  gồm thời đệ I đệ nhị Cộng hòa ). 

                                                                      ***
     Thi sĩ Đông  Hồ ( 1906- 1966)  làm thơ chiêu niệm Nhất Linh  đăng trên tạp chí Bách khoa, Vũ hoàng Chương nữa, bào nào tôi quên không nhớ.  Với Vũ hoàng Chương. tôi chẳng mấy tin sự chân tình, vì thời  kỳ mới đây, tập Hoa đăng , sản phẩm thỏa hiệp văn chương đầu hàng , ca tụng gián tiếp chính phủ Ngô đình Diệm  , được Giải văn chương Toàn quốc. Thi sĩ Vũ hoàng Chương được cử đi ngoại quốc họp hành  hội nghị văn chương này nọ và được tưởng thưởng một số tiền lớn . ( kẻ không ưa lên tiếng,  mưu luận cố vấn tổng thống  Diệm sao không nghĩ ra chước mua lại tờ vé số trúng độc đắc 1 triệu đồng đem tặng VHC ,  rồi ra lệnh cho báo chí loan tin đồng loạt, có phải là tuyệt  vời, hơn là  trao giải thưởng văn chương, làm lộ mặt hề của  nền  văn  chương bồi bếp ?  ).   Thật mà nói, không có một nhà văn nào  không ăn nhơ ở bẩn  với chính phủ mà được đi công du ngoại quốc  hoài hoài đâu ?

       Vì thế,  PENVIETNAM  là cái gì, hẳn bạn đọc đã tự hiểu, và  trong  năm  1962, tôi đã viết về cái gọi là  Văn bút VN    :   "... Trung tâm Văn bút  Việtnam , tên của hồi sau ngày Phạm việt Tuyềnlinh mục Thanh Lãng ( 1924- 1990 ) điều  động , cho cái tên hay như thế !  Một người Việtnam ở hải ngoại nhìn vào sinh hoạt văn nghệ VN chẳng hạn, phải có tâm đạo mới nghĩ rằng : chẳng lẽ những nhà văn tăm tiếng nhất của VN lại không có trong đó hoặc là có trong đó đầy đủ nhất...*
-----
*   HIỆN TÌNH VĂN NGHỆ MIỀN NAM: 1957- 1961  /  THẾ PHONG - Đại Nam văn hiến xuất bản, Saigon 1962.  Nhà văn tăm tiếng mà tôi dùng ở đây   :  champion de la  plume thì không vào hội; còn nhà văn   tầm tầm  hạng nhì, ba, tạm gọi  écrivain renommé đầu hàng chính  quyền làm văn thám, văn công   bám víu lợi quyền. 

          Khi tác giả  Vũ hoàng Chương làm một bài thơ ca tụng cái chết  thượng tọa Thích quảng Đức
( in rô-nê-ô phát không) , lại do chùa Xá lợi đảm nhiệm ấn hành, phân phối.   Tôi chẳng mấy thiết tha, vì tin rằng  tác giả có thực lòng.  Vì, tôi đã nghĩ thế này về nhóm Phạm việt Tuyền , trong đó có Vũ hoàng Chương. Khi chính quyền Diệm còn vững, họ là tay sai ( trực tiếp hoặc gián tiếp )  trung thành  và có cái lồi chê bai chính quyền, như :   Chẳng hạn,  tổng thống Ngô đình Diệm đáng chê trách thật,  nhưng trong giai đoạn này không ai có thể thay thế một vị tài đức có thừa, tiếng tăm  vượt biên giới quốc gia v.v... - lối chê này  nguy hại gấp triệu lần khen.  Cho tới khi nhìn thấy chính phủ  Diệm sửa soạn đổ, bà Trần lệ Xuân vợ cố vấn tổng thống  ra ngoại quốc giải độc dư luận toàn cầu  - thì báo  do  chính phủ Diệm trợ cấp trở đầu chống đối,  chửi bới, bây giờ lại  hô hào toàn thể báo giới Saigon  gia nhập ngày đình công tập thể để phản đối nhà nước .( như kiểu Ngày Ký giả đi ăn mày  đã tổ chức ở Saigon ), để  xóa tôi, lập công.  Một sảo thuật chính trị nữa, theo voi  hít bã mía nhưng biết  lúc nào cần  thì  nhả bã .  Những ai  làm chính trị như nghề buôn không vốn làm giàu, nên theo sách lược của  nhóm kia.  Nhưng, ông chủ nhật  báo Tự do Phạm việt Tuyền  còn khá  hơn hàng trăm  kẽ lưu manh chính trị khác, bời, ông là thi sĩ Thanh Tuyền, tác giả tập thơ Phá lao lung.   Một nhà thơ , dầu là tồi tàn cách mấy, kém giá trị tới đâu, tôi vẫn dành một sự quí mến - tùy theo ít hay nhiều - bởi, lương tâm họ vẫn chính  trực, muốn góp  làm chân ,thiện, mỹ thêm sáng tỏ - có thể, vì tài hèn trí mọn,  hoặc bị một thế lực nào đó  lấn át, mua chuộc nên họ  đành chịu thua cuộc mà thôi.

    Ngày 25 tháng 8 năm 1963, được tin một nữ sinh tự thiêu trước chợ Bến Thành, biểu tình chống chính phủ làm tôi xúc động mãnh liệt.  Sau, biết phương danh: Quách thị Trang, tôi  làm bài Tôi đã nhìn thấy gì? sau 2 tuần lễ cảm phục trước cái chết một nữ sinh  thánh thiện hy sinh vì  lý tường.

                          ... bộ quần áo trắng ơi hơn cả xác nàng
                                                                  đổ trên đường nhựa
                             em chết thật rồi ư? 18 năm trinh khiết
                                                                    bỏ lại tình yêu
                            chữ Việtnam ai viết lên nền trời đen tối 
                                                        hôm nay  em  tô chữ vàng dân tộc, dân quyền  
                            bỏ  lại các anh, những thằng trai 30 hèn nhát ...

    còn nữa, những nữ sinh trường Nữ Lê văn  Duyệt cắt vạt áo dài phía sau làm biểu ngữ, bãi khóa , căng trước cổng  trường  chống  chế  độ độc tài:

                              Tôi đã nhìn thấy  gì  , đôi mắt cận thị không thể nhìn xa
                              Tôi đã nhìn thấy gì, đêm qua, chúng nó tảo thanh giết người
                             Tôi đã nhìn thấy gì, đồng bào tôi khăn tang, đi chân đất,  khóc òa
                           
                             tôi đã nhìn thấy gì: người chị, người mẹ,
                                                                    người em đợi con bỗng nhiên mất tích ..
                             tôi đã nhìn thấy gì,
                                                    đứa trẻ sơ sinh chết đi  đêm qua 
                                                                               từ chối làm người 
                            biểu ngữ trường  học chắp lại bằng nhiều vạt áo dài  thiếu nữ
                                                   chống đối chính quyền Ngô đình Diệm độc tài 
                            tôi hô hào
                                       không cho tương lai nghe
                                                              nữ quyền hôm nay phải là  mẫu hệ ...
                             THƠ LÀM LỚN DẬY CON NGƯỜI / THẾ PHONG

                                                                                             ( cỏn tiếp)

                              thế phong

                          ( Sđd - trang    251 - 268.)

 

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

nhớ nơi kỳ ngộ / lãng nhân - 10

                  nhớ nơi kỳ ngộ:  bùi kỷ, dương bá trạc 
                                                        hồi ức : lãng nhân 


                                                                 BÙI KỶ


    Nhiều lần  đến số 7  đường Larrivé thăm ông Trần [ trọng Kim] xong, tôi hay tạt  qua số 11 là nơi cư ngụ của thân huynh bà Trần [ trọng Kim] , ông Bùi Kỷ, nhưng  ít khi được gặp ông, vì ông thường đi vắng, người nhà không biết ông đi đâu.

     Ông là dòng dõi, 4 đời đại khoa, mà riêng tôi kính trọng, vì ông có khoa mà không hoạn :   khi  đỗ phó bảng xong, ông không ra làm quan, nên được sung vào phái bộ tham quan nước Pháp.   Ông lưu lại bện đó mấy năm, thấy cảnh đẹp người xinh cũng lấy làm thích thú; nhưng lại nghĩ, nếu mình hùa theo mọi người, ắt chỉ đứng đằng đuôi, chi bằng đem cái phong nhã phương đông ra cho lạ tai lạ mắt, có lẽ hay hơn.   Quả nhiên, ông gây được 1, 2 gặp gỡ xứng đáng, thỏa lòng hiếu kỳ trong niềm tự trọng.

    Tuy vậy, ông cũng phải tính hồi hương, vì ở phương tây, nhà nho không thể coi tiền tài như phấn thổ, ít đồ thêu  bên nhà gửi sang bán cũng chẳng được mấy hơi, thôi thì  ta về ta tắm áo ta.
    Về nhà,ông dạy học và trước thuật, lấy bút hiệu Ưu Thiên, do câu   Kỷ nhân  ưu thiên trụy ( người nước Kỷ lo trời sập  - vì thấy mây kéo  xuống thấp).

    Bút hiệu thường dùng để chỉ nguồn gốc, như Tản Đà sinh quán nơi núi Tản sông Đà, hay để tỏ chí hướng như Sào Nam, chim dậu càng Nam.  Ưu Thiên cũng ôm một mối lo: một sự đổ vỡ to lớn như trời sập.   Ở trong một nước bị trị, lo sự sập trời như lo mất nước, là mối lo chính đáng, là chí hướng siêu quần.   Nhưng lo là một chuyện, mà đạt được chí nguyện  là chuyện khác.   Hình như ông cũng tự nhủ như thế, nên đã giải về chữ  lo:

                                             Lo như ai cũng là ngốc thật 
                                             Lo trời nghiêng, lo đất chông chênh
                                             Lo chim bay lạc tổ quên cành 
                                             Lo cá lội xa ghềnh lạ nước 
                                             Hão huyền thế đố ai lo được
                                             Đem gang tay đánh cuộc với cao dầy ! 
                                                                ƯU THIÊN - BÙI KỶ

     Lo hão huyền mà vẫn lo, đôi khi nhãng đi để rồi lại lo.

    Có buổi sáng phải chấm thi ở trường Cao đẳng, ông ở nhà ra đi thấy giờ còn sớm, nên lững thững trên hè, bỗng thấy dưới 1 mái hiên có 2 người ngồi xổm bên bàn cờ  tướng.  Thì ra là cuộc đấu trí, ông già chủ bàn cờ bày một nước bí, người khách đang tìm cách giải.   Ưu Thiên tiên sinh lo xem trận nước, quên hẳn giờ chấm thi .

    Có lần, ông đi chơi ở tỉnh xa, mảng lo nước bài cao, thấp mà quên lo ... lộ phí..., liền đánh điện tín cho giám đốc học chính Bernard  vay 100 đồng  ( hơn 1 tháng lương tri huyện ) , được đáp ứng ngay, mối lo được giải tỏa.

    Ông dạy quốc văn trương Cao đẳng.  Sinh viên ở đây đã thành niên, nên được gọi là các thầy.  Mấy thầy người Nam  vốn không ưa môn này, lại thấy giáo sư khăn xếp, áo the, râu mày, đạo mạo; nên hay trêu chọc.  Một buổi, ông vừa vào lớp, đã thấy trên bảng đen có dòng chữ :

                                       Que devient le singe quand il ne chante pas

  ông tủm tỉm cười , cầm khăn lau phấn, thủng thỉnh nói:
  -  khỉ mà không hát  thì đến dạy các thầy  đây, chứ còn gì nữa !

    Sau gần  một tiếng đồng hồ, bài giảng hùng hồn đã làm cho các thầy ngồi như thịt nấu đông, và từ đó, trong cử chỉ lễ độ có hàm lòng kính mến, chân thành.

    Đỗ VănTchyA hay cùng tôi tìm đến ông, để hỏi điển tích, hoặc trình bày một vài thắc mắc về văn học; đôi khi lại mời ông đi tìm thú cầm hoa.  Ông không từ chối , có khi lại tranh đài thọ mọi khoản: ấy là lúc có hoạnh tài, mà biến cố này ít xảy ra.

    Đối với chúng tôi, ông  là  người bạn vong niên có phong độ, giàu cảm tình, lúc nào cũng khoan hòa nhã đạm.

    Một hôm, tôi nhận được mấy vần ông gửi tới, đọc thấy lời thơ tự nhiên mà gây cảm xúc lạnh lùng :

                                               Hôm qua  có bạn rượu lại hết
                                               Hôm nay có rượu, bạn không biết
                                               Cất đi, đợi bạn đến lúc nào
                                               Cùng uống, cùng vui, càng say tít 
                                               Say sưa quên cả ta là ai 
                                               Còn hơn lúc tỉnh nhớ mà mệt ... 
                                                                     ƯU THIÊN - BÙI KỶ

    Sau khi 2 tờ báo Đông Tây Thời báo bị rút giấy phép, một hôm vào khoảng 11 giờ sáng, ông rẽ vào nhà báo ở phố Nhà Thờ.   Thấy chúng tôi đang thu dọn thư tịch, liền lấy giấy bút , viết mấy  câu :

                                                 Đem bút mực mài viên khối lỗi 
                                                Tìm sách đèn gỡ mối giang san 
                                                Đố ai trộm được chữ nhàn
                                                Ra ngoài hình dịch, là làng thanh tao.
                                                                     ƯU THIÊN- BÙI KỶ.

    Tôi thưa :
     - Ra ngoài hình dịch  đâu phải dễ ạ! Nêu dễ, ông Đào [ Tiềm] đã không buồn  cái cảnh đem tâm làm nô lệ cho đời sống của thân hình.  Bây giờ đem thân hình phục vụ cho tâm, nên mới thế này đây! Đóng cửa hết báo này đến báo khác.
    Ông cười, bảo :
    -Thì cũng cứ bướng bỉnh  làm theo lòng mình, mới là chơi chứ ...
    -Vậy thì, lúc này cũng đã tới giờ.  Chúng tôi mời ông đi làm một chầu chả cá ! Cho xứng tâm, mà thân hình cũng thoải mái một bữa ...
    Thế rồi cuộc đời xoay chiều, quả dưa bổ đôi, chúng tôi vào Nam, ông kẹt  lại.
   Đến 1960, nghe tin ông từ trần, tôi kính cẩn mấy vần gởi tới bàn thờ vọng :

                                      Chợt nghe tin điên báo thình lình
                                      Lo xập, thôi ông hết bận mình
                                      Những lúc hàm ca hằng tưởng nhớ 
                                      Mấy lời ký-chú vẫn đinh ninh
                                      Đàn thơ còn thoảng  hương kỳ dật
                                      Đài giảng chưa quên tiếng lão thành 
                                      Ngàn dặm từ đây ngăn cách hẳn
                                      Nghẹn ngào giọt lệ khóc tiên sinh ...
                                             .LÃNG NHÂN-PHÙNG TẤT ĐẮC



                                                                        DƯỚNG BÁ TRẠC 


     Năm  1930, khi làm báo ở Hànội,sáng sáng chúng tôi thường lui tới nhà in Trung Bắc ở phồ hàng Bông để coi lên khuôn trang báo, phong hờ cần viết thêm hay xóa bớt nơi cột báo có chổ thừa hay thiếu.

    Nơi văn phòng ấn quán, thỉnh thoảng chúng tôi thấy sự hiện diện của một vài vị bỉnh bút của tòa soạn Trung Bắc: cụ bảng Hoàng hay cụ cử Dương [ bá Trạc ] .  Chúng tôi cúi chào  cho phải phép, rồi rẽ sang bên sắp chữ, chứ không đứng lại thưa, gửi.  Các cụ  20 năm trước đã khởi xướng phong trao Đông kinh nghĩa thục chống Pháp.  Cụ Bảng thoát được lo tù, cụ cử từng mấy năm Côn đảo, ai chẳng 1 lòng tôn kính.  Sở dĩ có sự kính nhi viễn chi, là vì các đã theo chính sách Pháp Viêt đề huề  , do báo Nam phongTrung Bắc đề xướng , chính sách mà ngày nay, chúng ta gọi là chiêu hồi.

    Thập niên 20 vừa qua đã được đánh dấu  bằng bản án Phan bội Châu ( 1924), đám tang Phan chu Trinh
( 1926) và vụ chém Nguyễn thái Học ( 1930).  Mối xúc động  đang âm ỉ trong lòng nhân dân, vậy àm cụ bảng viết xã luận chỉ khuyên bỏ hủ tục đốt vàng mã - cụ cử [ Dương bá Trạc]  thì hô hào công dân giáo dục bằng những khẩu hiệu vang vang mà không chút thiết thực, làm sao lôi cuốn được ai ?

                                                                           ***

    Sau khi thất bại  trong nghề báo chí, tôi quay về nhàn cư ở Nam định.   Đến 1937, nhân vụ bầu cử viện Dân biểu, tôi mới có dịp hội diện cùng cụ cử Dương [ bá Trạc] , khi cụ cổ động cho ông Phạm huy Lục.

    Giữa 2 người tranh cử, ai chẳng bầu cho người có ăn học, chứ ai đầu phiếu cho ông lái pháo !  Cụ cử [Trạc ]  khỏi cần du thuyết, ông Lục cũng thắng.   Vậy mà rồi ông pháo[ Phạm lê Bổng]  đoạt giải, hơn ông Luc  một phiếu.

    Trong  lúc tửu hậu trà dư, cụ cử tặc lưỡi  về tình đời đen bạc, kẻ hậu sinh này tìm hiểu tâm sự bậc đàn anh, mà bấy lâu mình đã nghĩ lầm, qua lối hành văn khoa  trương ( hyperbole) nhưng ba tấc lưỡi mà gươm  mà súng , một ngòi lông mà trống mà chiêng  : thời  làm cách mạng, cụ lấy tên là Dương Thiếu Niên, mong thổi một luồng gió kiêu hùng vào lớp trẻ; nhưng rồi thất bại liên tiếp, buộc phải ngậm ngùi mà hòa dịu với đời.

    Bây giờ đêm đã khuya , khách đã vắng, cụ viết tặng 1 bài :

                                          Gặp nhau  trên giấy tự bao ngày
                                          Mừng mặt bây giờ mới bắt tay
                                          Cao ngất hào tinh muôn trượng núi 
                                          Bay tung văn tứ chín từng mây 
                                          Giang sơn Lô Tản đồng tâm mấy?
                                          Nhân vật Côi Hoàng cự phách đây ! 
                                          Nhiệt huyết kiếm đâu đài múa vảy 
                                         Nghị trường, vai ấy cũng hay hay ..
                                                               DƯƠNG BÁ TRẠC

    Tôi đứng lên   cảm tạ thịnh tình, nhưng xin chỉ lĩnh 2 câu đầu và 2 câu cuối, còn 4 câu giữa không dám nhận vì không xứng đáng ...

    Cụ cười phá lên:
   -... mấy ông ( báo) Phong hóa thường giễu tôi : văn kêu như vỏ thùng rỗng.   Có kêu mới có tiếng
 vang , còn nghe hay không thì tùy, miễn là kêu lên để khích lệ.  Tôi kể ông nghe câu chuyện Trạc nhé :  ông nhớ ông giáo Nghi chứ !
   - Vâng, khi trước ông dạy ở trường Bờ sông, có tiếng là ăn khỏe, uống khỏe hơn người, lại có tài hùng biện ...
     -Đúng thế .  Nhưng đặc điểm của ông  là ít khi chịu chi tiền, nên người ta thường giễu là tướng Trạc.  Trạc là tiếng  trong làng cờ bạc, có nghĩa là chịu, không trả tiền ngay, thiếu lại, do chữ trái,  đọc theo tiếng Quảng đông.
    Thì, một hôm, ở dưới xóm, ông giáo Nghi đang  trổ tài hùng biện, thao thao bất tuyệt, mấy ông bạn ghé tai tôi - vì tôi cũng dự trong bữa ấy - yêu cầu làm bài hát nói để cô đào Mộng  Hoàn tặng ông tướng Trạc.  Tôi viết đùa :

                                       Trong thiên hạ ai bằng thằng Trạc?
                                       Sinh ra đời chỉ trạc đời chơi!
                                       Chẳng trạc danh trạc lợi như ai 
                                       Mà cao đạo hơn người, là chỉ trạc...
                                       May trạc được, chẳng khoe khoang vì được
                                       Rủi trạc thua, không tức bực vì thua
                                       Được hay thua cũng chỉ trò đùa
                                       Trên sân khấu đóng vài trò tướng Trạc 
                                       Trạc cho non phải chuyển, cho biển phải đầy,
                                                    cho cuốn gió tung mây, cho chọc trời quất nước
                                       Trạc xong rồi mà tâm tính vẫn như-như
                                                    bảo ông thằng Trạc, ông ừ ... 
                                             DƯƠNG BÁ TRẠC

     - Cử tọa vỗ tay cười to hơn cả là ông giáo Nghi. Nhưng hả hê nhất thì là tôi , vì giải được tâm tình.  Ông xem đấy,   quấy nước chọc trời, chẳng có lúc đấy ư ? Thì bây giờ  cũng thế này đây có sao đâu.  Ộng đừng quan tâm về  muôn trượng núi, chín từng mây, miễn là giữ được máu nóng đem vảy nơi vũ đài ...

    Tôi dạ dạ, vâng vâng, khi từ về không dám đưa bài thơ cho ai xem.  Nhưng từ đấy cụ Dương [ bà Trạc]  trở thành bạn vong niên của tôi  và mỗi lần có dịp xuống  Nam [ định ] , thế nào cũng ghé qua tệ xá, câu đầu tiên khi để chiếc ô nép vào tường , là :' Tắm cái đã!'.  Rồi cụ  giải thích:

    - Chả là khi trước đi cách mạng, anh em bảo nhau : ' phải tập ở bẩn cho quen  để chuẩn bị lúc vào tù, khỏi thấy khó chịu vì ngứa ngáy .  Bấy giờ thì trái lại, phải tập ở cho sạch, cho cái bẩn khỏi vương  mình nữa.  Cho nên' tắm cái đã '  là đầu câu chuyện chúng mình với nhau ' .

                                                           ***

   Thế rồi, thời thế đảo điên, khác hẳn dự đoán của  mọi người.   Người Nhật đề xướng lịch trình Đại Đông Á làm mưa làm gió  từ nam ra bắc, người Pháp nép mình cầu hòa.

    Một hôm, tôi  đến phố Sinh Từ * thăm cụ cử [ Dương bá Trạc]  đã được người Nhật đem đi Chiêu Nam
( Singapore) dự trù lập ở đó một nhóm chính khách Việtnam cầm đầu một cuộc đảo chính.

    Ở bên đó vài năm, không ngờ cụ nhuốm bệnh, rồ tạ thế vào ngày 10- 12- 1944.   Nhà đương cục Nhật cho hỏa thiêu, rồi gởi tro về Sài Gòn.  Song ở đây, không có ai nhận.  Sau Nhật  phải đưa ra Hànội, trao cho ông em cụ là  giáo sư Dương quảng Hàm ..

     Máu nóng vảy trên  vũ đài -   ở Singapore  -chắc rằng ở cõi  suối làng mây, cụ bao giờ cũng vẫn tâm tình như thế !
-----
*     nay là phố Nguyễn Khuyến, Hànội. (BT


( sđd : trang   88 - 95 )

                                                                      
   lãng nhân 



---
*   Đào Tiềm:   Qui khứ lai - lý tự dĩ tâm vi hình dịch ... ( LN chú thích ). 

Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

tháng hai buồn đọc lại lỗ tấn / hoàng vũ đông sơn - 5


                               tháng hai buồn đọc lại lỗ tấn :
                    bún thang từ thức chất đến huyền thoại 
                                                            hoàng vũ đông sơn 




     Mỗi khi gia đình  sum họp để tiễn một người đi hay dón một người về, người miền bắc có thói quen tổ chức một bữa bún thang.   Nếu cuộc chia tay  hay trùng phúng đó lại rơi vào mùa đông  sớm nhất là chớm thu có những chiếc lá vàng rơi lả tả xuống sân vườn cho gió cuốn đi để đối cảnh sinh tình : Trận gió thu phong rụng lá vàng / Lá rơi tường Bắc  lá rơi sang  thì món bún thang càng tuyệt.

        Lá vàng rơi là định luật của trời.  Lá vàng có rơi nhiều thì chồi non lộc biếc mới có chổ có nơi để phát triển mạnh mẽ cho cây sớm lên đại thụ.   Người xưa bảo không sai : Thu liễu, Đông tàng, Xuân sinh, Hạ trưởng .   Trong cái chu lưu bất tuyệt, bất  biến hàng năm  đó, bát bún thang nóng hổi  nghi ngút toa hương trước thu phong, trước đông phong sao mà tuyệt vời, sao mà ấm cúng đến thế. . cái ấm cúng củ gia đình làm ấm lòng người đi, an lòng người ở để chờ người  lữ thứ sớm quay về.

    Bún thang lá món  ăn cầu kỳ, mất nhiều thì giờ để chuẩn bị và thực hiện.  Chỉ có những người mẹ hiền, người  đảm mới dám lý tới món bún tháng.   Làm sao  để bát bún thang mang đủ dáng vẻ thanh-nhã-đạm của miền bắc.  Trong bát bún thang gói trọn cả tình quê hương đất nước, tình cha mẹ, vợ con., em, cháu...
ngũ hành hoá sinh sinh tạo nên khí vị: hương gấy mùi nhớ.

     Nhưng bún thang có ở cái nôi dân tộc ta từ bao giờ ?  Người miền bắc ai cũng đều cảm nhận được cái hương vị đậm đà ngọt ngào thanh cảnh đó.  Mà bắt giải thích theo kiểu tầm nguyên thì thật là khó .  Nếu như có người ngoại quốc nào  chịu ăn chịu chơi, sau  khi thưởng thức, rồi nêu thắc mắc :

    " Bún thang là gỉ ?"
    "Tại sao lại gọi là Bún thang ?"
    Người việt ta, trừ cụ Ấm Hiếu, khó mà lý giải  vắn tắt cho họ thông ngay được.  Vì ở 2 cuốn từ điển cổ như Đại Nam quốc âm tự vị/ Huỳnh tịnh Của  kim như Việtnam tự điển /  Khai trí tiến đức đều tách ra từng tự để thích nghĩa.
    trong Đại nam quốc âm tự vị  /  Huỳnh tịnh Của
    " Bún: bôt sợi, bột làm ra sợi ( tr. 77 
    " Thang: nước nóng ( tr. 367)
   và Việtnam tự điện / Khai trí tiến đức :
    " Bún: bột gạo làm thành từng sợi ( tr. 60)
    " Thang : nước nóng ( tr. 550)
   cũng ở  trang 550 này, Việtnam tự điển ghi thêm : "  Món ăn bằng bún chan nước, dùng nước nóng, mùa rét ăn thang".

     Các cụ thi nhau soạn tự điển để chú giải những điều thiên cao địa  viễn, nhưng với bún thang, món ăn chân quí của người mình - các cụ lại vắn tắt quá.  Ý hẳn  các cụ cho rằng : " miếng ăn là miếng tồi tàn" mà không thèm lý tới một cách triệt để.
     Để tìm cội nguồn bún thang ở các sách nữ công gia chánh, dĩ nhiên chì là công cốc.  Còn về  thể cách thực hiện và trính bày bát bún tháng của các nhà , thì mỗi người bàn một cách.
    Đi kiếm tìm ở ngoài mãi cũng chẳng đâu vào đâu, giống như cảnh:  đi chơi cho biết Đồ sơn -  cuối  cùng đành phải trở về nhà để hỏi nhà mình vậy.   Bụt chùa nhà  không thiêng, nhưng ngặt quá.!

     Vấn nạn về bún thang được các đấng   hậu duễ của Cao quốc tổ mẫu Âu Cơ , không riêng gì bàn dân thiên hạ mà kể cả vợ con , em, cháu trong nhà , cũng đều không ứng cách thích nghĩa của 2 bộ tự điển trên.  Rồi họ cũng lâm vào cảnh lúng túng:  " sư cãi sư phải vãi cãi vãi hay " , nhưng bún thang   vẫn hoàn
bún thang.  Bún thang  là một thực thể.  Dù bún là chính hay thang là chính  cũng không thể gọi là
  Bún thang, nếu không có gà, có trứng, có thịt heo ...

    Vấn đề ngữ nghĩa của từ của tự đã chẳng thành vấn đề , khi thật mục sở thị  những người yêu thương mình xé nhỏ từng miếng thịt gà, thái nhỏ từng miếng thịt thăn heo ( lợn) , miếng trứng rán  và nhiều thứ nũ ra thành sợi chỉ.   Vất vả từ chợ búa về đến bếp núc khói lửa mịt mù, thế mà họ vẫn tươi rói, vẫn trịnh trọng đặt lên trước mặt ta lần lượt những tô tráng men tinh khiết chất chứa báo tình thương nỗi nhớ ...

       Khi ăn bún thang, thực khách có thể ngồi tại chỗ, ngồi dưới đất, trên giường,  trải chiếu hay trên bàn   ghế kiểu tây phương.  Người phục vụ dâng hiến đến gần... mồm từ tí hạt tiêu, tí mắm tôm xanh, giọt cà-cuống ...  chỉ khổ cho những ai không quen ăn nóng, mà ăn bún thang phải ăn thật nóng mới ngon, mới thú vị
.
    Khác với phở là món ăn  tại cửa hàng cửa hiệu  - ăn phở còn ăn cả cái không khí phở cùng người hàng xứ. Bún thang là món ăn tại gia.  Ăn bao nhiêu cũng được ... Vấn đề là chỗ tùy theo nền kinh tế tài chính gia đình và tùy theo sức chứa của cái bụng.   Người nào thích , có thể ăn thêm rau ghém.  Nhưng chỉ với loại rau duy nhất là rau diếp thái thật nhỏ như sợi thuốc lào, thuốc lá.  Lẫn lộn bất kỳ loại rau nào vào bát bún thang sẽ lạc vị, mất hết cả cái ngon.
    Bún thang bây giờ đã vượt khỏi ngưỡng cửa các gia đình việt, đã  chu du đi khắp dông nam  đoài bắc, đã vượt  cả biên cương để có mặt ở khắp nơi có người việt gốc bắc cư ngụ.  Bún thang ở ngay đất Sài Gòn đã phổ thông đến độ ngang tầm với bún riêu, bún ôc,  canh bún.    Người ta ăn  bún thang hay món  ăn gọi là bún thang  với tất cả  tương đỏ, tương đen, với cả rau muống chẻ ,bắp chuối, giá sống, húng quế, rau răm, rau ngổ.
   Ít khi  nhà hàng chủ quán thấy khách gào cà-cuống.  Hoặc , chủ nhà hàng không có, mà có thì quá đắt, đắt hơn cả ngày xưa, như câu ví von: đắt như thuốc đau mắt của bà lang Trọc  nên khách  không thèm xài; hoặc không biết xài, vì chẳng biết cà-cuống là cái quái quỉ gì .(...) *   Bún thang  cũng nổi trôi theo mệnh nhà, vận nước,
----
 * (...) BT xin lỗi  tác giả, lược bỏ  49 chữ nói về ;  " cái bánh Trôi mà nữ sĩ HHT  " mục sở thực...".   

                                                                 ***

    Bún thang cũng không  có huyền sử đẹp như bánh Giầy, bánh Chưng hay như bánh  Trôi , với 49 chiếc để trên mẹt, trên bè thả trôi sông biển, tượng trưng cho 49 hoàng tử mà  đức Cao tổ quốc  tổ phụ Lạc Long  quân  phái đi  chinh phục những miền đất lạ.  Bún thang có huyền thoại xâu xấu về  món ăn  có liên quan mật thiết đến thịt gà được truyền tụng ở quê tôi, vùng Đông triều.  Huyền thoại này  nghe nói, do một đấng hậu duệ nhà Mạc, chắc là con cháu Tráng vương Mạc kinh Chương.  Sau khi vở Tổ ở  đất Cao Bằng, người họ Mạc muốn sống, phải thay tên, đổi họ, bị chỉ định cư trú theo lệnh của chúa Trịnh.  Ai không chấp hành thì lang bạt, tự đổi họ, thay tên.  Mà mối thù sát tộc với họ Trịnh thì khôn nguôi.

    Chuyện được lưu truyền  ở quê tôi đã khá lâu; nhưng lại là chuyện liên quan đến những nhân vật kiệt hiệt của lịch sử ở một thời nhiễu nhương lắm phe, nhiều nhóm tranh Bá đồ Vương.  Những chuyện quái dị ỡ dãy núi Đông triều quê tôi là vùng bán sơn địa vốn không kiếm. Nửa thế kỷ qua đi, tôi  chưa có dịp về thăm, nhưng vẫn nhớ lỗ mỗ, rằng :

     "... ông Trịnh Kiểm khi còn hàn vi , tức là trước khi trúng tuyển làm nài ngựa cho ông Nguyễn Kim tính tình  phóng đãng, nhà nghèo lại thích  ăn ngon, mẹ con ông toàn xơi thịt gà do ông vồ của bàn dân thiên hạ.
    Khi đắc thế, quyền uy ông lệch đất nghiêng trời, trên ông hiếp  vua, dưới thịt em vợ một cách ngang nhiên  , cũng chẳng ai dám ì xèo nửa  lời.   Miếng  ngon vật lạ của cả xứ Bắc kỳ, nếu ông thích, sẽ vào mõm ông hết.  Nhưng ông lại chi thích món Bún gà.  Tụi đầu bếp  Thanh, Nghệ dâng mãi, ăn mãi; ông cũng chán miệng.  Ông hạ lệnh cho tụi đầu bếp Thăng Long chế tác thử nghiệm.  Có một   Bảng nhãn  là chuyên gia đón gió vào hàng đệ nhất lưu đã hiểu ý siêu đại nhân, bèn  tiểu di cho tụi đàn em đầu bếp dâng lên Chúa một món Bún gà, nhưng được ông đặt cho mỹ từ là Bún Thăng.  Ông cũng chuẩn bị  cả lời khải tấu với Chúa, là : "  Theo Dịch học và những lý giải trong các cổ thư, thì ' Trong mỗi bát Bún Thăng dâng lên Chúa ngự dụng có cả Thiên Huyền Địa Hoàng  , có âm dương ngũ hành... Chúa mà  ngự hàng ngày sẽ Thọ tỷ Nam san, tràng trị vũ lâm, nhất thống giang hồ.  Vì Chúa là Thần nhân Thánh triết, nên sẵn có Văn thành Võ đức, bây giờ  thêm cả Thiên Địa quy nạp vào bụng Chúa, Chúa sẽ điều lý âm dương tuyệt vời, sẽ vô tiền khoáng hậu ..."

     Thọ tỷ Nam san:  Không - vì Chúa  là người nên cũng phải tịch.
     Tràng trị vũ lâm: Không  - vì trên  Chúa  con có vua Lê, dù là hư vị, nhưng vẫn là một thực tại.
     Nhất thống giang hồ :   lại cũng Không -  vì mặt  tây bắc vẫn còn các chi họ Mạc, hở ra là giành  dân chiếm đất, mặt đông nam, có ông Nguyễn Hoàng lăm le  kéo quân ra đòi lại cương vị.  Dân đói khổ kháp  chợ cùng quê, giặc cướp thì ban đêm , các cậu  lính Tam phủ thì   ban ngày. Muốn truyền tử lưu tôn ở ngôi vị Chúa, phải nhớ lời phán bảo của một người đã dâng sớ hạch tội 18 tên lộng thần của triều đình nhà Mạc.   Người ấy đã coi  hôn quân hôn chúa và quan lại tham ô như giặc cướp, lấy uy quyền dọa nạt và lợi dụng câu nhử cũng không xong.   Sai quan lớn có chức danh đem quà đến  biếu dù là nhân danh Chúa , người ấy vẫn khước từ.  Đem lời mật hỏi cũng không  được giải đáp một cách chính thức mà chỉ nói  với tiểu đồng, rằng :  Giữ chùa thợ Phật thì ăn oản . Ngẫm nghĩ mãi lời nói ấy: Thượng phu, Thượng tướng Thái quốc Công thấy rằng món Bún Thăng đúng là linh thực.  Thần thực  Phúc thực, Hỷ thực- vì từ khi xơi Bún Thăng, quả nhiên   là thăng thật, cứ như y là được lộc của trời, nên đã ngồi cả  lên đầu Vua tới 216 năm mơi là ngon lành.

    Chuyện còn kể rằng :

    " ...anh chàng  dịch nha An Nam hơn hẳn anh chàng dịch nha bên Tàu nhiều thứ : Một là,  không phải làm thịt con  đẻ của mình để xé nhỏ tống vào bát Bún Thăng mà vẫn thăng quan tiến chức.  Hai là, có học nên khéo đón ý Vương thượng.  Phe bên phủ Liêu thì cá mè như nhau.  Phe bên cung Vua đàng hoàng, đúng đắn đấy, nhưng lại rét vì Chúa không ưa, sợ nói ra đưa lại ... Ba là, cấu kết   với tên yêm hoạn Phan huy Đỉnh trấn áp  trong ngoài để hắn lam Tham tụng ( Tể tướng), còn ngài ' Dịch nha An Nam, đó là Bồi tụng ( phó Tể tướng -  như phó Thủ tướng ngày nay )...  Sách  Việtnam thông giám đã ghi như thế ..."

    Món ăn , ăn vào đại phát tài, thế tập làm vương, ai mà chả mong chả thích, nên người Bắc hà ngày ấy thi nhau làm Bún Thăng, thi nhau ăn Bún  Thăng để chóng được thăng quan tiến chức , không có viễn kiến gì thì ăn để lấy khước.

    Dư luận  dân gian đường phố đến tai nhà Chúa do quý  vị Lính Tam phủ đưa vào.  Chúa phán quở
rằng:

     " Tụi dân Bắc Kỳ , mi xược quá! Cũng muốn  thăng như ta sao? Giỏi lắm, khéo lắm, ngon lắm, ta cũng chỉ cho làm bồi tụng hầu hạ trong  phủ Liêu như Lê quí Đôn.  Đó là  nấc thang  ta cất nhắc cho kẻ trung thành.  Đừng láo !"

    Từ đó, ngoài phủ Chúa, không ai dám gọi là Bún Thăng mà phải biến  âm đi.  Không kỵ húy nhưng vẫn dứt khoát phải đổi, phải gọi trại đi.  đọc trệch ra là   Bún Thang. Vần quốc ngữ bây giờ chỉ phải bỏ đi
dấu á, để ngoài  ý nghĩa là nấc thang, trèo thang lại còn nghĩa la lang thang khắp chợ cùng quê cho đẹp lòng Chúa, cho đỡ ngứa tai gai mắt các thừa sai của Chúa [ Trịnh ] 

   Đã gọi huyền thoại , có nghĩa là rất xa với sự thực.   Một loại tuyên truyền đen để tự đánh bóng mìnhbôi nhọ đối thù.   Có thể cái ông hậu duệ nhà Mạc, vì mối thù  sát tộc - không hay chưa  rửa  được -  đã đơm đặt ra ,  đưa vào sách Nam  Hải dị nhân liệt truyện để phịa thêm ra. . Chuyện đúng hay sai, tôi chẳng dám lạm bàn; chỉ biết chắc chắn Bún Thang là một hiện thực.

                                                                           ***

    Thỉnh thoảng :

                                               Trông mâ y Bắc tái buồn ghê 
                                              Về ư - Chẳng được vẫn tái tê lòng 
                                              Nhớ nhà thắp một tuần nhang
                                              Quan san đèo Cả, đèo Ngang mấy từng 
                                                    TÂM SỰ HOÀNG VŨ ĐÔNG SƠN

 Có thân trích bóng ghé vào  hàng quán  bên đường tìm lại chút hương xưa, khó mà ăn được bát thứ 2.  Thế mới biết cái món Bún Thang lại quá là diệu vợi.  Muốn ấm chân  răng một cách triệt để thì các cụ ông phải nhờ đức các cụ bà, các đàn anh, phải phiền tới đôi tay dịu hiền của các đàn chị.

    Dấng danh sĩ nào đã sản xuất ra bài thơ có 2 câu hay đáo để:

                                                 Đi chơi cho biết Đồ Sơn
                                                Trở về mới biết chẳng hơn Đồ Nhà 

    Bún Thang phải ăn tại nhà mới ngon.  Ăn tại  nhà tức là ăn cả cái  không khí gia đình, cả cảnh đoàn viên, sau một thời đi hoang:

                                             Vắng bè  bạn có vợ con 
                                             Xa xôi xã hội vuông tròn quốc gia 
                                                  TẢN ĐÀ
     Cảnh  ấm cúng là cả gia đình quần tụ cùng bưng bát Bún Thang, cùng nhau múa đũa, cùng nhau xì xụp:

                                            Khi vui câu chuyện thêm giòn
                                           Chẳng chồng thì vỡ vợ con con một nhà
                                                  ??? 

    Bún Thang  là món ăn cầu kỳ , mất nhiều công lênh.  Ai là khách được mời ăn Bún Thang, phải tự biết mình đã lọt vào mắt xanh gia chủ, đã có một quá trình tương giao, có độ dày tình thân và được tôn quí.   Vì thường thì nón Bún Thang lại do chính bà chủ  nhà vừa là trưởng ban tổ chức, vừa là  bếp  trưởng và các em gái  đều là bếp viên , phục vụ  viên, nên không thể có tạp khách trong bữa Bún Thang ở các gia đình người miền bắc...

     Chẳng biết Bún Thang có được  liệt vào hàng cao lương mỹ vị hay không và nếu là cao lương mỹ vị , thì cũng  là miếng ăn.   Mà miếng ăn là miếng tồi tàn .  Ngạn ngữ dạy như thế  để khuyên người ta chớ tham lam, quơ quào để rồi nhục đến tông môn.  Về thực chất, nó tồi tàn thật sau vài giờ hay một ngày.
    Ăn Bún Thang tại nhà không chỉ la thưởng thức một món ăn mà còn là thưởng ngoạn một công trình.   Chỉ có cụ Tản Đà là thiết cận nhân tình, nên  Người  đã dạy cho những người có tâm hồn ăn uống, phải nhớ :

                                                 Đồ ăn ngon
                                                Chỗ ngồi ăn ngon
                                                Người  cùng ăn ngon
                                                Ngon ! 
                                                                     TẢN ĐÀ

     Mong rằng dân mỗi ngày mỗi giàu, nước mỗi ngày một khà, để tất cả mọi gia đình Việtnam đều coi món Bún Thang là món ăn thường. [']
                               
                                                                       ( kỳ sau :  buồn vui qua những năm thìn


          hoàng vũ đông sơn
                            BÌNH QUỚI TÂY 29- 1- 1996