Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013
nhà văn tác phẩm cuộc đời / thế phong - 19
nhà văn tác phẩm cuộc đời
tự-sự-kể: thế phong
8
Giáng sinh 1962 tôi lên Dalat. Tập thơ Trước mắt nhìn thi sĩ phản ảnh tâm trạng gần nhất trong ngày tháng qua. Cảm ơn một vùng cao nguyên đẹp dưới mắt tôi lần đầu. Cuộc sống tranh rác ỡ Ngã tư Bẩy hiền, nơi chúng tôi ở, sự giành giật từng miếng rác còn thừa của Mỹ kiều đổ. Chúng đánh nhau, chúng chửi nhau, chúng bán sự trinh tiết để thu hoạch đồng tiền mua cơM, áo - thôi thì đủ hết thứ cần thiết con người cần nhu cấu sống. Riêng gia đình bác Phạm quang Huyến, từ khi di chuyển tới nơi này , ngoài sự kiếm sống còn phải đối phó với bao kẻ thù xung quanh. Từ anh binh nhất Không quân thầu rác Mỹ đến nhà hàng xóm muốn chiếm đất đai dựng nhà bán kiếm lời, trên mảnh đất chúng tôi mới tới . Nhớ lại, hôm nào, bác Huyến gọi tôi lên uống trà, ấy là khi còn ở xóm đạo di cư Tân Chí linh - cho biết - có 2 căn nhà ở trên Bẩy hiền này rất dễ chiếm , vừa được ở vừa có nguồn lợi sống.
Tôi không còn ở tuổi 20, nay đã có kinh nghiệm cuộc sống rời, những gì tưởng dễ ăn không hẳn ngậm vào miệng đã là ngon ! Và cũng không phải dễ giành giật như mình tưởng. tượng. Tôi viết những chi tiết kia trong một truyện ngắn - Khu rác ngoại thành - từ lúc mới dọn nhà tới mệt nhọc biết bao khó khăn- tôi nói đùa, chẳng khác gì những người Mỹ đầu tiên tới lập quốc ở miền Viễn Tây vậy. Những nỗi eo sèo, tranh giành, cướp giật, đĩ điếm; thôi thì trăm cảnh bẩn mắt diễn ra, mà không thể bịt mắt, che tai mà coi như không biết.
Anh lính tàu bay bao thầu rác của Mỹ, nói là rác thôi, nhưng toàn đồ tốt cà, nào bàn tủ, ghế còn mới, so với giá thị trường bên ngoài mua bán đáng giá nghìn đồng. Có khi, lính Mỹ thảy ra những miếng cạc-tông lớn, bán ra ngoài được 2, 3 trăm đồng / miếng. Cứ môi lần, tôi nhìn thấy vỏ rốc-kết chất ngoài trước nhà cao bao nhiêu, dân chúng càng chết nhiều bấy nhiêu ! Những nông dân, thanh niên, phụ nữ, trẻ con, mồi ngon của những trái rốc-kết. Mỗi lần anh lính Mỹ lái xe GMC đổ rác, được sự mời mọc giải lao bằng bia, coke + sự săn sóc chu đáo tận tình từ vợ anh lính tàu bay. Anh chồng đem vợ ra làm mồi câu lính Mỹ đổ rác trước sân nhà , tôi thấy anh ta chẳng thấy tha thiết gì tới vợ , khi cô nàng cười tình , còn anh lính Mỹ ôm vai, sờ nhẹ đôi nong lương , thi cô nàng lại khúc kha khúc khích. Ban đầu, tôi thắc mắc, sau biết, người đàn bà được gọi là vợ anh lính tàu bay kia , trước , xuất thân ở xóm điếm Lăng Cha Cả , thì chuyện đưa đàn bà làm mồi câu nhử, hẳn chẳng còn gì là ngạc nhiên !
Giai đoạn sau khi anh Huyến cùng anh lính tàu bay tranh chấp, anh lính tàu bay phải dọn nhà đi,chúng tôi thắng cuộc ở lại - thi câu chuyện vợ anh lính tàu bay được kể lại, thêm nhiều chi tiết ly kỳ như huyền thoại. Anh lính tàu bay hợp đồng với một trung sĩ Huê Kỳ:
"...mày để xe mô tô Harley cho tao vượt gió trên đường đi làm thì mày được quyền làm chồng nàng vi vút trên giường "
hình ảnh anh G.I và anh lính tàu bay việt dưới mắt tôi :
.... phía bên kia dãy nhà chúng tôi ở xa xa hơn
chuyện lạ đồn thổi , thực hơn tờ báo nhược tiểu quốc loan tin
xe mô-tô Harley 2 xi-lanh lao vút trên đường tới phi trường
chiếc mô tô đàn bà việtnam mông vằm, vú to, ngực nở
đàn bà xe một xy-lanh biết nói đang lao vút trên giường
hai thứ hàng được trao đổi huyền thoại chuyện thần tiên
anh lính tàu bay nhược tiểu thích sang trọng tự mang lon
thích trưng diện
cần mô tôi hơn đàn- bà- vợ.
hiệp ước ký kết : 2 bên đều quan tâm và cùng có lợi
giờ đi làm, trung sĩ Mỹ được sử dụng mô tô trên giường
ngược lại,
lính tàu bay Việt Nam
cưỡi xe Harley lao vút trên đường
lắc đầu lia lịa
bạn bè hỏi
mua bao nhiêu được làm chủ
xe Hạc-lây đẹp quá chừng chừng !
anh lính tàu bay kể
tích chuyện táo quân 2 ông chỉ có một bà tụng truyền
người con gái 18 văm -pia
ngực bồng, eo thon , mông nở
cười nắc nẻ ,
ho rũ rượi
hiểu ra rồi
thế nào là ái tình việt mỹ thực dụng !
nước uống, nước mưa, nước mắt, nước trà, nước sinh lý
đều là nước
lấy nước rửa nước
để nước nguyên hình là nước sạch
THƠ LÀM LỚN DẬY CON NGƯỜI / THẾ PHONG.
tập thơ này tôi làm vào thời gian trước đảo chính Ngô đình Diệm vào tháng 11 năm 1963. Những bài thơ gần như là phản ảnh gần gụi nhất với cảm nghĩ của tôi bấy giờ đối với bối cảnh xã hội. Nào là, lo bị bắt, những người bạn ở gần, hoặc , đa số đều bi chính quyền Diệm bắt nhốt .
Đại úy Đinh thạch Bích * , một người bạn đã cho tôi đánh máy nhờ cuốn sách Nhà văn hậu chiến 1950- 1956, kỳ tái bản, cung cấp giấy xáp , mời uống dintôníc - mà tôi chối từ - rồi biện bạch không biết uống rượu, thì ông bạn kia bảo :
" ... chắc mày nghĩ đến 150 $ có thể mua được 5 ram giấy duplicateur in sách rô-nê-ô chứ gì ? "
rồi Uyên Thao và Thắng cũng bị câu lưu tại Tổng nha Công an. lại nghe tin anh Nguyễn đức Quỳnh cũng bị bắt giữa đường , sau khi đi hớt tóc. Lại nữa, tôi ra ngã tư mua thuốc lá, gặp 1 anh bạn trẻ đang tập tọng làm văn nghệ, làm công an viên đi xe Mô-by-lét xám dẫn tôi đi uống cà phê. Chủ quán cà-phê Thăng Long : "... sao nhà văn cao bồi nhất Saigon chưa bị tóm à ?" Câu hỏi ông Cẩn hỏi cách chơi chơi -nghe xong - tôi bấm bụng, chắc lát nữa khi anh ta đưa tôi về, đành phải nói trước là hay nhất " nếu anh muốn bắt , thì cứ tự nhiên". Anh công an viên này lắc đầu trả lời, không phải vậy đâu , đừng lo !
Lo lăng chất chồng, hay là đi Đà Lạt chơi cũng là một cách lánh mặt.
---
* được giải Văn chương toàn quốc, qua vở Ái tình Bôn-xê -vích - và là thứ trưởng bộ Chiêu hồi, hiện nay ở Mỹ.
( TP chú thich sau )
***
Con cho Lili luôn luôn theo sau tôi . Nó là một kỷ niệm giữa tôi và nó, ấy là lần lên Dalat cuối 1962, lẩn đầu tiên tôi biết thế nào là đất của Hoàng triều cương thổ. Tôi nhớ rất rõ, khi từ Cà -phê Tùng trở về, trên đường Hàm Nghi, gần tới Nhà thờ Tin lành Dalat, gặp nó vẫy đuôi , như quen từ lâu. Tôi đưa bàn tay, nó liếm, tôi bèn vuốt ve lưng nó, tấm thảm tro màu xám . Nó theo tôi không dứt, đuổi thế nào, nó cũng vẫn đi theo. Cởi thắt lưng da, tôi xích cổ nó dắt về . Biết là chó cái, mộtsinh viên đi cùng can : chó cái thì nuôi làm gì ? Tôi không nghĩ thế. Tôi đưa nó về Saigon, thế là anh Huyến chủ trọ không chỉ nuôi mình tôi mà lại thêm con chó cái Lili :
"... Mỗi khi tôi ra rừng cao su gần nhà, nó theo tôi như con Lu lu trắng ( chó chủ nhà ). Chúng nó rất vui , vẫy đuôi lia lịa. Tôi trèo lên cây cao su, rễ cụt nằm ngả người để đọc những trang sách mới nói về cuộc sống, thế nào là xã hội thực thụ ở Nam Tư , tác giả Milovan Djlas - nó cũng nằm ở gốc cây như canh gác cho tôi. Đó là con Lili. Tôi ve vuốt vá thương hại nó, lần nào đó cách đây ít ngày nó bị ốm tưởng là chết. Là vì, tôi gặp nó thường ra đứng ngóng mỗi chiều ở ngã tư , như để đón ăn hoặc làng thang ngong đón đực thì phải. Tôi gọi nó về, cầm cái gậy lớn đánh nó đâu 4, 5 cái thật đau. Nó kêu ăng ẳng chạy ông tuốt, tưởng nó sẽ không trở về. May mà chiều tối nó trở về, lê chân sau thật thảm, hóa ra nó bị trụy thai- tưởng lần này - phải đào hố trong rừng cao su chôn nó. Tôi rất ân hận khi nhìn thân xác gầy nhọm đi, và dử mắt nhoèm 2 bên mi, nó yếu quá, vẫn theo tôi, và không thể trèo lên gốc cây cao su như mọi lần.
Tôi không đủ tiền, nên không biết có cách nào đưa nó đi chữa chạy, thôi thì đành phó thác mạng cho định mệnh an bài. Nó không chịu ăn cơm và tôi đành phải bóp bụng mua cho nó một hộp sữa đặc pha hàng bữa, lúc đầu nó chỉ liếm láp sơ sơ. Nhưng ít ngày sau nó hồi lực và bây giờ thì khá rồi. Tôi mừng mãi. Và từ đấy, nó không dám ra đứng ở ngã tư như xưa nữa. Tôi nhìn nó , tự nhủ : đới sống khốn nạn này không cho phép tôi đi làm để kiếm đủ miếng sống cho bản thân và nuôi thêm người bạn đường : một con chó cái ...*
------
* Khu rác ngoại thành / The rubbish tip outside the city / The Phong - translated by Đàm xuân Cận .
nxb Thanh niên Hànội tái bản, 2006.
Lili còn là nguồn cảm hứng cho tôi làm thơ, tôi tặng nó một bài :
... Một con chó lạ tiễn chân tôi rời núi rừng Đà Lạt
theo chân tôi về thành phố man dại bỏ lại phía sau
một con chó cái âu yếm liếm bàn chân tôi phiêu lưu
dường như nó quyến luyến thương tôi quá nhiều đơn độc
nằm dưới chân tôi cả phút giờ quạnh quẽ tâm hồn
tôi làm thơ mô tả cuộc sống thế kỷ này bon chen
những giáo mác tua tủa xâm độc nhằm phía tôi lao bắn
tôi đặt tên cho nó như tên nàng ca sĩ đợt sóng mới Lili
tôi vuốt thảm lông xám tro như tóc người yêu bỏ cuộc
tôi leo đường dài đổ dốc có bạn huyền đề bốn chân
tôi người chủ trãi có kẻ săn sóc trại vườn
khí giới có tâm hồn định đọt kẻ thù của chủ
tôi bị bội phản nên vô cùng quí chó
tôi nhiều tình thương nhân bản nên quí các em bé
tôi đầy khôn ngoan nên không mưu trưởng giả
tôi có nhiều nhiệt tình nên quí mến tuổi thanh niên
tổ quốc chúng ta hôm nay phủ ngập rừng chông
lòng yêu nước các anh cần sự canh chừng loài chó
các anh ngửng mặt lên cao và đừng ngã đó ...
TRƯỚC MẮT NHÌN THI SĨ / THẾ PHONG
Đôi khi tôi kể chuyện về Lili cho anh em nghe, có người, lại cho tôi là khinh thị con người. nhưng làm sao được, khi mà loài vật rất trung thành và hãy nhìn Lili thì biết. Không giận tôi đã đánh nó, không hẳn là nó dễ quên; vì mỗi lần tôi bắt gặp nó lởn vởn ở gần ngã tư, tôi hét lớn gọi nó, lập tức nó chạy đi ẩn náu, lát sau mới thấy nó về. Hoặc, nó thấy tôi gọi với dáng điệu ít gay gắt, nó cụp đuôi chạy về, nem nép nằm một chỗ, mắt đen láy ngước nhìn lên, khi thấy tôi tới gần. Nó rất luyến mến chủ, nghĩa là không bội ơn, man trá, lại biết sợ lẽ phải. Ý định làm sáng tỏ sự thực loài chó thông minh, trung thành; tôi viết rất say sưa, lại hợp tình, hợp cảnh, cảm thông nhân bản loài chó trong truyện Con chó liêm sỉ * . Không sao được, khi mà, loài người, có kẻ như thế này:
----
* trong tập truyện Khu rác ngoại thành / The rubbish outside the city / The Phong - translated by Đàm Xuân Cận - nxb Thanh niên Hànội tái bản, 2006.
... bạn bè tôi trưởng giả áo quần tây phương chau chuốt
mùi thơm vẻ đẹp, lời ngon ngọt, giọng vô cùng bặt thiệp
đã chào bán rẻ tổ quốc chúng ta không bằng hiệp ước
những dòng chữ viết con kiến nào, mẫu tự nào truyền đạt đến tay
là bán đứng khổ đau chúng ta ngọt hơn đường hóa học
những kẻ ấy, chúng nó bán tổ quốc và cờ chúng ta cùng một lúc
rồi cao chạy xa bay, chúng ta chậm chân tiến sau tàu bay
chúng nó đi rồi, ở trên bầu trời, làm sao theo kịp
lý luận dễ hiểu,
ngoại nhân không cần mang máy chụp hình
nhưng mẫu tự bắt đấu chuyển vần sang vần trắc ...
THƠ LÀM LỚN DẬY CON NGƯỜI / THẾ PHONG
Không sao được, nhiều nhà văn thơ trên thế giới, từ đông sang tây, tự cổ chí kim , chỉ viết về loài người mà có bao giờ hết bất công trong xã hội đâu ? Nên, tôi đã chấp nhận nhân sinh quan con người tiến bộ và nhất là người làm văn nghệ phải nhận định được chiều hướng nào để theo, đỡ làm khổ bản thân - bởi - một khi thấy bất công, xấu xa càng nhiều, mà công việc làm như muối bỏ biển, ném cát vào sa mạc :
" Eugene Evtouchenko * đưa ra ý kiến- với ông - thì chẳng có gì gọi là quốc gia và cộng sản. Chỉ có người tốt và xấu, ông ta đứng về phía công dân tốt tranh đấu cho xã hội hoàn vũ để số người tốt tăng mãi lên. Song, chúng tôi quan niệm. Rằng, 30 vạn năm nữa, thì người xấu vẫn chưa thể hết, nói thế, không có nghĩa là chúng ta đành bó tay. Nhưng chúng ta phải biết thế mà vẫn tranh đấu. Những người xấu sẽ ít hơn độ xấu ở thế hệ sau và sẽ được người tốt kháng đối, tiêu diệt tiếp theo cái xấu ấy ..."
----
* lời vào dề cho sách EUGENE EVTOUCHENKO : NHÀ THƠ & CUỘC ĐỜI. Bản việt ngữ : Đường bá Bổn, Đại Nam văn hiến xuất bản , Saigon 1964 .
lần tái bản thứ 1 do nhà xuất bản Đồng Nai cấp phép năm 2004 - bản dịch được thay tựa : EVTOUCHENKO : HỒI KÝ VĂN CHƯƠNG VIẾT SỚM ( in chung MAIAKOVSKI & MỐI TÌNH CÂM / ELSA TRIOLET / Thế Phong dịch .
( chú thích sau)
Không sao được , khi loài chó còn biết nghĩa nhân, không phản bội, lọc lừa - mà nhà văn thơ còn thưa thớt viết về chúng nó. Và nhất là, khi tôi có chúng ở bên, chúng cấp cho tôi tư liệu sống cần thiết cho sáng tác. Chúng nó rất đáng được bảng vàng, bia đá, bởi, chúng giúp cho con người xây dựng xã hội này tốt đẹp. Một chú chó trong thế chiến thứ 2 có nghĩa với chủ, như một chuyện nào làm tôi cảm động mãi mãi vẫn chưa nguôi. Một chủ, nuôi con chó ở bên , 2 buổi chủ đi làm, nó theo chủ đến bền xe buýt. Tan sở, chủ ra bến xe buýt về nhà, đã thấy nó vẫy đuôi đợi. Rồi chiến tranh. Chủ nó chết vì bom đạn nơi sở làm. Nó vẫn đợi, hai buồi đón chủ ở chỗ ngày xưa vẫn đợi chủ đi và về. Và ngày này sang ngày khác, tháng qua năn, nó vẫn đợi ỡ chỗ bến xe buýt, nhưng không có lần nào gặp chủ. Mắt nó nhoèm đi, đầy nhừ , vì già, vì ăn uống thất thường, vẫn chờ đợi chủ và chết đợi chờ trên bến xe buýt quen thuộc. .
Không sao được, khi loài người còn cảnh này : đàn bà vội xé khăn tang khi chồng qua đời trong chiến tranh , thù ghét loài chó trung thành. Nhà chúng tôi trông ra đường lộ lớn, nối liền Ngả 4 Bẩy hiền tới sân bay Tân sơn nhất, Nhà thương Cộng hòa, trục nối liền sang miền Đông, về miền Tây. Và rất nhiều đám tang thanh niên phủ quốc kỳ trong cuộc nội chiến, tôi viết:
...Phía hông nhà chúng tôi , gian nhà bầy giướng trận
không còn lối đi vào, ngòng ngoèo như đường hầm
những cô vợ lính đến thuê, không làm gì, ngoài ngủ
chồng họ từ lâu ngoài mặt trận vẫn chưa về
tờ nhật báo loan hàng ngàn thanh niên bỏ thây,
phơi thịt ngoài trận địa ...
Tiếng khóc xé tan như mảnh lụa đầy âm thanh hỗn loạn
bệnh lý dâm loạn từ đây phát thanh bằng miệng
một ngàn binh sĩ Việtnam hy sinh từng ngày
trong khi địch tử trận 4 lần hơn ...
mảnh giấy báo nội hóa chóng úa vàng dán đầu giường trừ ma quỉ...
. Đường lộ nhà tôi, ngoài kia, buổi sáng
có kèn đám má gióng trống
sáng sáng, chiều chiều, chiếc xe nhà đòn
không tang quyến theo sau
ai qua đời, buổi sinh thời,
đời sống ra sao chết buồn lặng lẽ
thanh niên,
phải rồi, các bạn chết đi
, cờ tổ quốc phủ quan tài
thiếu phụ
môi hồng đã vội xé khăn tang
cưới tình nhân mới
đứa con cùng mẹ, khác cha,
thảm kịch gia đình nào đây,
trong tương lai
và rất ghét loài chó trung thành,
của loại đàn bà đa tình...
THƠ LÀM LỚN DẬY CON NGƯỜI / THẾ PHONG
Cứ gì phải là bây giờ mới có cảnh này, xưa kia, Trang Tử đã từng thử đàn -bà -vợ trong cảnh quạt mồ, mong cỏ chóng mọc, mọc rồi đi lấy chồng mới . Và bài thơ của hình ảnh đời sống của nồi da nấu thịt đã 3 tuổi lửa, tính từ năm 1965- khi quân đội Mỹ đưa quân vào Đằ Nẵng cùng với khối vũ khí đạn dược nhiều như núi, tàu bay , xe tăng, trực thăng, dạn pháo - chiến cuộc này càng ngày càng tàn khốc , số phận thanh niên chết đi càng nhiều gấp bội phần.
Ngày 7 tháng 7 năm 1963, nhà văn Nhất Linh tự tử, nghe tin, tôi buồn lặng người. Nhưng, tôi rất mừng cho đàn anh văn nghệ đã biết chết rất đúng lúc. Sau này, con trai đàn anh, bạn Nguyễn tường Thiết
( 1940 - ) tới nhà, hỏi tôi ý kiến: có nên ra báo vào thời kỳ chính phủ Diệm đang bót nghẹt họng dân chúng không ? Tôi khuyên bạn chưa nên... Và tôi làm 1 bài thơ đúng vào ngày thứ 49. - đưa tang chủ soái Tự lực văn đoàn - hình như - một số không đi đưa tang, tránh l đôi mát cú vọ công an chìm dòm ngó. Lần gặp luật sư Nguyễn tường Bá ( 1932 - ) ở nhà hàng Thanh Thế , hỏi , tôi có đi đưa tang ông Nguyễn tường Tam? ( 1907- 1963) Trả lời : - không bận, không đi, tôi sợ công an - song, có thể tới vào ngày cầu siêu 49 ngày - lời hứa là hứa cuội - vì thế - bài thơ này ra đời vào ngày ấy ở quán La Pagode :
. .. Rồi , một chiều thong dong, ăn vận áo quần chỉnh tề
ngồi gác chân, hách dịch, gọi bồi mang tách cà phê buổi sáng
tôi chống đối tôi, con người trưởng giả biết sử dụng đồng tiền
tờ báo hàng ngày đâu rồi, lơ đãng nhìn, tâm hồn tôi phiêu du
sóng nhạc tự do vượt biển tới đây của người phương tây
người Á châu ý thức gì, chung quanh mình, chông gai chịt chằng
có một âm thanh hắt vào óc tôi lạnh buốt kim
nhà- văn -Nhất- Linh-uống-độc-dược-chết-đêm-bẩy-bẩy
tờ nhật báo cho lên hàng tít đầu những hàng dài tiểu sử *
một đôi câu phù thủy chữ náu ẩn làm tôi chau mày
lý do nào minh chứng cho văn chương Á châu tượng trưng
tôi bỏ tách cà-phê buổi sáng uống dở chừng vào buổi chiều
bâng khuâng nhớ nhà văn không còn ngoài đời mãi mãi
bài thơ
trong tập THƠ LÀM LỚN DẪY CON NGƯỜI
mang những số 7 và 7 dương lịch, năm một chín sáu ba
7 rồ 7 ngày thứ 49 tính theo âm lịch,
Nhất Linh đi đời nhà ma
kẻ nằm trong mộ
lại cầm vận mệnh những người còn sống.
7 & 7 - & RỒI 7 .
THƠ LÀM LỚN DẬY CON NGƯỜI / THẾ PHONG
-----
* điểm qua các tờ nhật báo, tuần báo, tạp chí mà tôi đọc bài chiêu niệm Nhầt Linh, mạnh bạo nhất chỉ có nhật báo Đồng Nai ( chủ nhiệm: Huỳnh thành Vị ) đã cho cái chết nhà văn Nhất Linh để chống độc tài .
( ông Ngô đình Diệm lên nắm chính quyền là ngày 7 tháng 7/ 1954 - từ ngày đó - 7 tháng 7 coi như kỷ niệm lớn của nước Việtnam cộng hòa. ( gồm thời đệ I và đệ nhị Cộng hòa ).
***
Thi sĩ Đông Hồ ( 1906- 1966) làm thơ chiêu niệm Nhất Linh đăng trên tạp chí Bách khoa, Vũ hoàng Chương nữa, bào nào tôi quên không nhớ. Với Vũ hoàng Chương. tôi chẳng mấy tin sự chân tình, vì thời kỳ mới đây, tập Hoa đăng , sản phẩm thỏa hiệp văn chương đầu hàng , ca tụng gián tiếp chính phủ Ngô đình Diệm , được Giải văn chương Toàn quốc. Thi sĩ Vũ hoàng Chương được cử đi ngoại quốc họp hành hội nghị văn chương này nọ và được tưởng thưởng một số tiền lớn . ( kẻ không ưa lên tiếng, mưu luận cố vấn tổng thống Diệm sao không nghĩ ra chước mua lại tờ vé số trúng độc đắc 1 triệu đồng đem tặng VHC , rồi ra lệnh cho báo chí loan tin đồng loạt, có phải là tuyệt vời, hơn là trao giải thưởng văn chương, làm lộ mặt hề của nền văn chương bồi bếp ? ). Thật mà nói, không có một nhà văn nào không ăn nhơ ở bẩn với chính phủ mà được đi công du ngoại quốc hoài hoài đâu ?
Vì thế, PENVIETNAM là cái gì, hẳn bạn đọc đã tự hiểu, và trong năm 1962, tôi đã viết về cái gọi là Văn bút VN : "... Trung tâm Văn bút Việtnam , tên của hồi sau ngày Phạm việt Tuyền và linh mục Thanh Lãng ( 1924- 1990 ) điều động , cho cái tên hay như thế ! Một người Việtnam ở hải ngoại nhìn vào sinh hoạt văn nghệ VN chẳng hạn, phải có tâm đạo mới nghĩ rằng : chẳng lẽ những nhà văn tăm tiếng nhất của VN lại không có trong đó hoặc là có trong đó đầy đủ nhất...* "
-----
* HIỆN TÌNH VĂN NGHỆ MIỀN NAM: 1957- 1961 / THẾ PHONG - Đại Nam văn hiến xuất bản, Saigon 1962. Nhà văn tăm tiếng mà tôi dùng ở đây : champion de la plume thì không vào hội; còn nhà văn tầm tầm hạng nhì, ba, tạm gọi écrivain renommé đầu hàng chính quyền làm văn thám, văn công bám víu lợi quyền.
Khi tác giả Vũ hoàng Chương làm một bài thơ ca tụng cái chết thượng tọa Thích quảng Đức
( in rô-nê-ô phát không) , lại do chùa Xá lợi đảm nhiệm ấn hành, phân phối. Tôi chẳng mấy thiết tha, vì tin rằng tác giả có thực lòng. Vì, tôi đã nghĩ thế này về nhóm Phạm việt Tuyền , trong đó có Vũ hoàng Chương. Khi chính quyền Diệm còn vững, họ là tay sai ( trực tiếp hoặc gián tiếp ) trung thành và có cái lồi chê bai chính quyền, như : Chẳng hạn, tổng thống Ngô đình Diệm đáng chê trách thật, nhưng trong giai đoạn này không ai có thể thay thế một vị tài đức có thừa, tiếng tăm vượt biên giới quốc gia v.v... - lối chê này nguy hại gấp triệu lần khen. Cho tới khi nhìn thấy chính phủ Diệm sửa soạn đổ, bà Trần lệ Xuân vợ cố vấn tổng thống ra ngoại quốc giải độc dư luận toàn cầu - thì báo do chính phủ Diệm trợ cấp trở đầu chống đối, chửi bới, bây giờ lại hô hào toàn thể báo giới Saigon gia nhập ngày đình công tập thể để phản đối nhà nước .( như kiểu Ngày Ký giả đi ăn mày đã tổ chức ở Saigon ), để xóa tôi, lập công. Một sảo thuật chính trị nữa, theo voi hít bã mía nhưng biết lúc nào cần thì nhả bã . Những ai làm chính trị như nghề buôn không vốn làm giàu, nên theo sách lược của nhóm kia. Nhưng, ông chủ nhật báo Tự do Phạm việt Tuyền còn khá hơn hàng trăm kẽ lưu manh chính trị khác, bời, ông là thi sĩ Thanh Tuyền, tác giả tập thơ Phá lao lung. Một nhà thơ , dầu là tồi tàn cách mấy, kém giá trị tới đâu, tôi vẫn dành một sự quí mến - tùy theo ít hay nhiều - bởi, lương tâm họ vẫn chính trực, muốn góp làm chân ,thiện, mỹ thêm sáng tỏ - có thể, vì tài hèn trí mọn, hoặc bị một thế lực nào đó lấn át, mua chuộc nên họ đành chịu thua cuộc mà thôi.
Ngày 25 tháng 8 năm 1963, được tin một nữ sinh tự thiêu trước chợ Bến Thành, biểu tình chống chính phủ làm tôi xúc động mãnh liệt. Sau, biết phương danh: Quách thị Trang, tôi làm bài Tôi đã nhìn thấy gì? sau 2 tuần lễ cảm phục trước cái chết một nữ sinh thánh thiện hy sinh vì lý tường.
... bộ quần áo trắng ơi hơn cả xác nàng
đổ trên đường nhựa
em chết thật rồi ư? 18 năm trinh khiết
bỏ lại tình yêu
chữ Việtnam ai viết lên nền trời đen tối
hôm nay em tô chữ vàng dân tộc, dân quyền
bỏ lại các anh, những thằng trai 30 hèn nhát ...
còn nữa, những nữ sinh trường Nữ Lê văn Duyệt cắt vạt áo dài phía sau làm biểu ngữ, bãi khóa , căng trước cổng trường chống chế độ độc tài:
Tôi đã nhìn thấy gì , đôi mắt cận thị không thể nhìn xa
Tôi đã nhìn thấy gì, đêm qua, chúng nó tảo thanh giết người
Tôi đã nhìn thấy gì, đồng bào tôi khăn tang, đi chân đất, khóc òa
tôi đã nhìn thấy gì: người chị, người mẹ,
người em đợi con bỗng nhiên mất tích ..
tôi đã nhìn thấy gì,
đứa trẻ sơ sinh chết đi đêm qua
từ chối làm người
biểu ngữ trường học chắp lại bằng nhiều vạt áo dài thiếu nữ
chống đối chính quyền Ngô đình Diệm độc tài
tôi hô hào
không cho tương lai nghe
nữ quyền hôm nay phải là mẫu hệ ...
THƠ LÀM LỚN DẬY CON NGƯỜI / THẾ PHONG
( cỏn tiếp)
thế phong
( Sđd - trang 251 - 268.)
Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013
nhớ nơi kỳ ngộ / lãng nhân - 10
nhớ nơi kỳ ngộ: bùi kỷ, dương bá trạc
hồi ức : lãng nhân
BÙI KỶ
Nhiều lần đến số 7 đường Larrivé thăm ông Trần [ trọng Kim] xong, tôi hay tạt qua số 11 là nơi cư ngụ của thân huynh bà Trần [ trọng Kim] , ông Bùi Kỷ, nhưng ít khi được gặp ông, vì ông thường đi vắng, người nhà không biết ông đi đâu.
Ông là dòng dõi, 4 đời đại khoa, mà riêng tôi kính trọng, vì ông có khoa mà không hoạn : khi đỗ phó bảng xong, ông không ra làm quan, nên được sung vào phái bộ tham quan nước Pháp. Ông lưu lại bện đó mấy năm, thấy cảnh đẹp người xinh cũng lấy làm thích thú; nhưng lại nghĩ, nếu mình hùa theo mọi người, ắt chỉ đứng đằng đuôi, chi bằng đem cái phong nhã phương đông ra cho lạ tai lạ mắt, có lẽ hay hơn. Quả nhiên, ông gây được 1, 2 gặp gỡ xứng đáng, thỏa lòng hiếu kỳ trong niềm tự trọng.
Tuy vậy, ông cũng phải tính hồi hương, vì ở phương tây, nhà nho không thể coi tiền tài như phấn thổ, ít đồ thêu bên nhà gửi sang bán cũng chẳng được mấy hơi, thôi thì ta về ta tắm áo ta.
Về nhà,ông dạy học và trước thuật, lấy bút hiệu Ưu Thiên, do câu Kỷ nhân ưu thiên trụy ( người nước Kỷ lo trời sập - vì thấy mây kéo xuống thấp).
Bút hiệu thường dùng để chỉ nguồn gốc, như Tản Đà sinh quán nơi núi Tản sông Đà, hay để tỏ chí hướng như Sào Nam, chim dậu càng Nam. Ưu Thiên cũng ôm một mối lo: một sự đổ vỡ to lớn như trời sập. Ở trong một nước bị trị, lo sự sập trời như lo mất nước, là mối lo chính đáng, là chí hướng siêu quần. Nhưng lo là một chuyện, mà đạt được chí nguyện là chuyện khác. Hình như ông cũng tự nhủ như thế, nên đã giải về chữ lo:
Lo như ai cũng là ngốc thật
Lo trời nghiêng, lo đất chông chênh
Lo chim bay lạc tổ quên cành
Lo cá lội xa ghềnh lạ nước
Hão huyền thế đố ai lo được
Đem gang tay đánh cuộc với cao dầy !
ƯU THIÊN - BÙI KỶ
Lo hão huyền mà vẫn lo, đôi khi nhãng đi để rồi lại lo.
Có buổi sáng phải chấm thi ở trường Cao đẳng, ông ở nhà ra đi thấy giờ còn sớm, nên lững thững trên hè, bỗng thấy dưới 1 mái hiên có 2 người ngồi xổm bên bàn cờ tướng. Thì ra là cuộc đấu trí, ông già chủ bàn cờ bày một nước bí, người khách đang tìm cách giải. Ưu Thiên tiên sinh lo xem trận nước, quên hẳn giờ chấm thi .
Có lần, ông đi chơi ở tỉnh xa, mảng lo nước bài cao, thấp mà quên lo ... lộ phí..., liền đánh điện tín cho giám đốc học chính Bernard vay 100 đồng ( hơn 1 tháng lương tri huyện ) , được đáp ứng ngay, mối lo được giải tỏa.
Ông dạy quốc văn trương Cao đẳng. Sinh viên ở đây đã thành niên, nên được gọi là các thầy. Mấy thầy người Nam vốn không ưa môn này, lại thấy giáo sư khăn xếp, áo the, râu mày, đạo mạo; nên hay trêu chọc. Một buổi, ông vừa vào lớp, đã thấy trên bảng đen có dòng chữ :
Que devient le singe quand il ne chante pas
ông tủm tỉm cười , cầm khăn lau phấn, thủng thỉnh nói:
- khỉ mà không hát thì đến dạy các thầy đây, chứ còn gì nữa !
Sau gần một tiếng đồng hồ, bài giảng hùng hồn đã làm cho các thầy ngồi như thịt nấu đông, và từ đó, trong cử chỉ lễ độ có hàm lòng kính mến, chân thành.
Đỗ Văn và TchyA hay cùng tôi tìm đến ông, để hỏi điển tích, hoặc trình bày một vài thắc mắc về văn học; đôi khi lại mời ông đi tìm thú cầm hoa. Ông không từ chối , có khi lại tranh đài thọ mọi khoản: ấy là lúc có hoạnh tài, mà biến cố này ít xảy ra.
Đối với chúng tôi, ông là người bạn vong niên có phong độ, giàu cảm tình, lúc nào cũng khoan hòa nhã đạm.
Một hôm, tôi nhận được mấy vần ông gửi tới, đọc thấy lời thơ tự nhiên mà gây cảm xúc lạnh lùng :
Hôm qua có bạn rượu lại hết
Hôm nay có rượu, bạn không biết
Cất đi, đợi bạn đến lúc nào
Cùng uống, cùng vui, càng say tít
Say sưa quên cả ta là ai
Còn hơn lúc tỉnh nhớ mà mệt ...
ƯU THIÊN - BÙI KỶ
Sau khi 2 tờ báo Đông Tây và Thời báo bị rút giấy phép, một hôm vào khoảng 11 giờ sáng, ông rẽ vào nhà báo ở phố Nhà Thờ. Thấy chúng tôi đang thu dọn thư tịch, liền lấy giấy bút , viết mấy câu :
Đem bút mực mài viên khối lỗi
Tìm sách đèn gỡ mối giang san
Đố ai trộm được chữ nhàn
Ra ngoài hình dịch, là làng thanh tao.
ƯU THIÊN- BÙI KỶ.
Tôi thưa :
- Ra ngoài hình dịch * đâu phải dễ ạ! Nêu dễ, ông Đào [ Tiềm] đã không buồn cái cảnh đem tâm làm nô lệ cho đời sống của thân hình. Bây giờ đem thân hình phục vụ cho tâm, nên mới thế này đây! Đóng cửa hết báo này đến báo khác.
Ông cười, bảo :
-Thì cũng cứ bướng bỉnh làm theo lòng mình, mới là chơi chứ ...
-Vậy thì, lúc này cũng đã tới giờ. Chúng tôi mời ông đi làm một chầu chả cá ! Cho xứng tâm, mà thân hình cũng thoải mái một bữa ...
Thế rồi cuộc đời xoay chiều, quả dưa bổ đôi, chúng tôi vào Nam, ông kẹt lại.
Đến 1960, nghe tin ông từ trần, tôi kính cẩn mấy vần gởi tới bàn thờ vọng :
Chợt nghe tin điên báo thình lình
Lo xập, thôi ông hết bận mình
Những lúc hàm ca hằng tưởng nhớ
Mấy lời ký-chú vẫn đinh ninh
Đàn thơ còn thoảng hương kỳ dật
Đài giảng chưa quên tiếng lão thành
Ngàn dặm từ đây ngăn cách hẳn
Nghẹn ngào giọt lệ khóc tiên sinh ...
.LÃNG NHÂN-PHÙNG TẤT ĐẮC
DƯỚNG BÁ TRẠC
Năm 1930, khi làm báo ở Hànội,sáng sáng chúng tôi thường lui tới nhà in Trung Bắc ở phồ hàng Bông để coi lên khuôn trang báo, phong hờ cần viết thêm hay xóa bớt nơi cột báo có chổ thừa hay thiếu.
Nơi văn phòng ấn quán, thỉnh thoảng chúng tôi thấy sự hiện diện của một vài vị bỉnh bút của tòa soạn Trung Bắc: cụ bảng Hoàng hay cụ cử Dương [ bá Trạc ] . Chúng tôi cúi chào cho phải phép, rồi rẽ sang bên sắp chữ, chứ không đứng lại thưa, gửi. Các cụ 20 năm trước đã khởi xướng phong trao Đông kinh nghĩa thục chống Pháp. Cụ Bảng thoát được lo tù, cụ cử từng mấy năm Côn đảo, ai chẳng 1 lòng tôn kính. Sở dĩ có sự kính nhi viễn chi, là vì các đã theo chính sách Pháp Viêt đề huề , do báo Nam phong và Trung Bắc đề xướng , chính sách mà ngày nay, chúng ta gọi là chiêu hồi.
Thập niên 20 vừa qua đã được đánh dấu bằng bản án Phan bội Châu ( 1924), đám tang Phan chu Trinh
( 1926) và vụ chém Nguyễn thái Học ( 1930). Mối xúc động đang âm ỉ trong lòng nhân dân, vậy àm cụ bảng viết xã luận chỉ khuyên bỏ hủ tục đốt vàng mã - cụ cử [ Dương bá Trạc] thì hô hào công dân giáo dục bằng những khẩu hiệu vang vang mà không chút thiết thực, làm sao lôi cuốn được ai ?
***
Sau khi thất bại trong nghề báo chí, tôi quay về nhàn cư ở Nam định. Đến 1937, nhân vụ bầu cử viện Dân biểu, tôi mới có dịp hội diện cùng cụ cử Dương [ bá Trạc] , khi cụ cổ động cho ông Phạm huy Lục.
Giữa 2 người tranh cử, ai chẳng bầu cho người có ăn học, chứ ai đầu phiếu cho ông lái pháo ! Cụ cử [Trạc ] khỏi cần du thuyết, ông Lục cũng thắng. Vậy mà rồi ông pháo[ Phạm lê Bổng] đoạt giải, hơn ông Luc một phiếu.
Trong lúc tửu hậu trà dư, cụ cử tặc lưỡi về tình đời đen bạc, kẻ hậu sinh này tìm hiểu tâm sự bậc đàn anh, mà bấy lâu mình đã nghĩ lầm, qua lối hành văn khoa trương ( hyperbole) nhưng ba tấc lưỡi mà gươm mà súng , một ngòi lông mà trống mà chiêng : thời làm cách mạng, cụ lấy tên là Dương Thiếu Niên, mong thổi một luồng gió kiêu hùng vào lớp trẻ; nhưng rồi thất bại liên tiếp, buộc phải ngậm ngùi mà hòa dịu với đời.
Bây giờ đêm đã khuya , khách đã vắng, cụ viết tặng 1 bài :
Gặp nhau trên giấy tự bao ngày
Mừng mặt bây giờ mới bắt tay
Cao ngất hào tinh muôn trượng núi
Bay tung văn tứ chín từng mây
Giang sơn Lô Tản đồng tâm mấy?
Nhân vật Côi Hoàng cự phách đây !
Nhiệt huyết kiếm đâu đài múa vảy
Nghị trường, vai ấy cũng hay hay ...
DƯƠNG BÁ TRẠC
Tôi đứng lên cảm tạ thịnh tình, nhưng xin chỉ lĩnh 2 câu đầu và 2 câu cuối, còn 4 câu giữa không dám nhận vì không xứng đáng ...
Cụ cười phá lên:
-... mấy ông ( báo) Phong hóa thường giễu tôi : văn kêu như vỏ thùng rỗng. Có kêu mới có tiếng
vang , còn nghe hay không thì tùy, miễn là kêu lên để khích lệ. Tôi kể ông nghe câu chuyện Trạc nhé : ông nhớ ông giáo Nghi chứ !
- Vâng, khi trước ông dạy ở trường Bờ sông, có tiếng là ăn khỏe, uống khỏe hơn người, lại có tài hùng biện ...
-Đúng thế . Nhưng đặc điểm của ông là ít khi chịu chi tiền, nên người ta thường giễu là tướng Trạc. Trạc là tiếng trong làng cờ bạc, có nghĩa là chịu, không trả tiền ngay, thiếu lại, do chữ trái, đọc theo tiếng Quảng đông.
Thì, một hôm, ở dưới xóm, ông giáo Nghi đang trổ tài hùng biện, thao thao bất tuyệt, mấy ông bạn ghé tai tôi - vì tôi cũng dự trong bữa ấy - yêu cầu làm bài hát nói để cô đào Mộng Hoàn tặng ông tướng Trạc. Tôi viết đùa :
Trong thiên hạ ai bằng thằng Trạc?
Sinh ra đời chỉ trạc đời chơi!
Chẳng trạc danh trạc lợi như ai
Mà cao đạo hơn người, là chỉ trạc...
May trạc được, chẳng khoe khoang vì được
Rủi trạc thua, không tức bực vì thua
Được hay thua cũng chỉ trò đùa
Trên sân khấu đóng vài trò tướng Trạc
Trạc cho non phải chuyển, cho biển phải đầy,
cho cuốn gió tung mây, cho chọc trời quất nước
Trạc xong rồi mà tâm tính vẫn như-như
bảo ông thằng Trạc, ông ừ ...
DƯƠNG BÁ TRẠC
- Cử tọa vỗ tay cười to hơn cả là ông giáo Nghi. Nhưng hả hê nhất thì là tôi , vì giải được tâm tình. Ông xem đấy, quấy nước chọc trời, chẳng có lúc đấy ư ? Thì bây giờ cũng thế này đây có sao đâu. Ộng đừng quan tâm về muôn trượng núi, chín từng mây, miễn là giữ được máu nóng đem vảy nơi vũ đài ...
Tôi dạ dạ, vâng vâng, khi từ về không dám đưa bài thơ cho ai xem. Nhưng từ đấy cụ Dương [ bà Trạc] trở thành bạn vong niên của tôi và mỗi lần có dịp xuống Nam [ định ] , thế nào cũng ghé qua tệ xá, câu đầu tiên khi để chiếc ô nép vào tường , là :' Tắm cái đã!'. Rồi cụ giải thích:
- Chả là khi trước đi cách mạng, anh em bảo nhau : ' phải tập ở bẩn cho quen để chuẩn bị lúc vào tù, khỏi thấy khó chịu vì ngứa ngáy . Bấy giờ thì trái lại, phải tập ở cho sạch, cho cái bẩn khỏi vương mình nữa. Cho nên' tắm cái đã ' là đầu câu chuyện chúng mình với nhau ' .
***
Thế rồi, thời thế đảo điên, khác hẳn dự đoán của mọi người. Người Nhật đề xướng lịch trình Đại Đông Á làm mưa làm gió từ nam ra bắc, người Pháp nép mình cầu hòa.
Một hôm, tôi đến phố Sinh Từ * thăm cụ cử [ Dương bá Trạc] đã được người Nhật đem đi Chiêu Nam
( Singapore) dự trù lập ở đó một nhóm chính khách Việtnam cầm đầu một cuộc đảo chính.
Ở bên đó vài năm, không ngờ cụ nhuốm bệnh, rồ tạ thế vào ngày 10- 12- 1944. Nhà đương cục Nhật cho hỏa thiêu, rồi gởi tro về Sài Gòn. Song ở đây, không có ai nhận. Sau Nhật phải đưa ra Hànội, trao cho ông em cụ là giáo sư Dương quảng Hàm ..
Máu nóng vảy trên vũ đài - ở Singapore -chắc rằng ở cõi suối làng mây, cụ bao giờ cũng vẫn tâm tình như thế !
-----
* nay là phố Nguyễn Khuyến, Hànội. (BT)
( sđd : trang 88 - 95 )
lãng nhân
---
* Đào Tiềm: Qui khứ lai - lý tự dĩ tâm vi hình dịch ... ( LN chú thích ).
hồi ức : lãng nhân
BÙI KỶ
Nhiều lần đến số 7 đường Larrivé thăm ông Trần [ trọng Kim] xong, tôi hay tạt qua số 11 là nơi cư ngụ của thân huynh bà Trần [ trọng Kim] , ông Bùi Kỷ, nhưng ít khi được gặp ông, vì ông thường đi vắng, người nhà không biết ông đi đâu.
Ông là dòng dõi, 4 đời đại khoa, mà riêng tôi kính trọng, vì ông có khoa mà không hoạn : khi đỗ phó bảng xong, ông không ra làm quan, nên được sung vào phái bộ tham quan nước Pháp. Ông lưu lại bện đó mấy năm, thấy cảnh đẹp người xinh cũng lấy làm thích thú; nhưng lại nghĩ, nếu mình hùa theo mọi người, ắt chỉ đứng đằng đuôi, chi bằng đem cái phong nhã phương đông ra cho lạ tai lạ mắt, có lẽ hay hơn. Quả nhiên, ông gây được 1, 2 gặp gỡ xứng đáng, thỏa lòng hiếu kỳ trong niềm tự trọng.
Tuy vậy, ông cũng phải tính hồi hương, vì ở phương tây, nhà nho không thể coi tiền tài như phấn thổ, ít đồ thêu bên nhà gửi sang bán cũng chẳng được mấy hơi, thôi thì ta về ta tắm áo ta.
Về nhà,ông dạy học và trước thuật, lấy bút hiệu Ưu Thiên, do câu Kỷ nhân ưu thiên trụy ( người nước Kỷ lo trời sập - vì thấy mây kéo xuống thấp).
Bút hiệu thường dùng để chỉ nguồn gốc, như Tản Đà sinh quán nơi núi Tản sông Đà, hay để tỏ chí hướng như Sào Nam, chim dậu càng Nam. Ưu Thiên cũng ôm một mối lo: một sự đổ vỡ to lớn như trời sập. Ở trong một nước bị trị, lo sự sập trời như lo mất nước, là mối lo chính đáng, là chí hướng siêu quần. Nhưng lo là một chuyện, mà đạt được chí nguyện là chuyện khác. Hình như ông cũng tự nhủ như thế, nên đã giải về chữ lo:
Lo như ai cũng là ngốc thật
Lo trời nghiêng, lo đất chông chênh
Lo chim bay lạc tổ quên cành
Lo cá lội xa ghềnh lạ nước
Hão huyền thế đố ai lo được
Đem gang tay đánh cuộc với cao dầy !
ƯU THIÊN - BÙI KỶ
Lo hão huyền mà vẫn lo, đôi khi nhãng đi để rồi lại lo.
Có buổi sáng phải chấm thi ở trường Cao đẳng, ông ở nhà ra đi thấy giờ còn sớm, nên lững thững trên hè, bỗng thấy dưới 1 mái hiên có 2 người ngồi xổm bên bàn cờ tướng. Thì ra là cuộc đấu trí, ông già chủ bàn cờ bày một nước bí, người khách đang tìm cách giải. Ưu Thiên tiên sinh lo xem trận nước, quên hẳn giờ chấm thi .
Có lần, ông đi chơi ở tỉnh xa, mảng lo nước bài cao, thấp mà quên lo ... lộ phí..., liền đánh điện tín cho giám đốc học chính Bernard vay 100 đồng ( hơn 1 tháng lương tri huyện ) , được đáp ứng ngay, mối lo được giải tỏa.
Ông dạy quốc văn trương Cao đẳng. Sinh viên ở đây đã thành niên, nên được gọi là các thầy. Mấy thầy người Nam vốn không ưa môn này, lại thấy giáo sư khăn xếp, áo the, râu mày, đạo mạo; nên hay trêu chọc. Một buổi, ông vừa vào lớp, đã thấy trên bảng đen có dòng chữ :
Que devient le singe quand il ne chante pas
ông tủm tỉm cười , cầm khăn lau phấn, thủng thỉnh nói:
- khỉ mà không hát thì đến dạy các thầy đây, chứ còn gì nữa !
Sau gần một tiếng đồng hồ, bài giảng hùng hồn đã làm cho các thầy ngồi như thịt nấu đông, và từ đó, trong cử chỉ lễ độ có hàm lòng kính mến, chân thành.
Đỗ Văn và TchyA hay cùng tôi tìm đến ông, để hỏi điển tích, hoặc trình bày một vài thắc mắc về văn học; đôi khi lại mời ông đi tìm thú cầm hoa. Ông không từ chối , có khi lại tranh đài thọ mọi khoản: ấy là lúc có hoạnh tài, mà biến cố này ít xảy ra.
Đối với chúng tôi, ông là người bạn vong niên có phong độ, giàu cảm tình, lúc nào cũng khoan hòa nhã đạm.
Một hôm, tôi nhận được mấy vần ông gửi tới, đọc thấy lời thơ tự nhiên mà gây cảm xúc lạnh lùng :
Hôm qua có bạn rượu lại hết
Hôm nay có rượu, bạn không biết
Cất đi, đợi bạn đến lúc nào
Cùng uống, cùng vui, càng say tít
Say sưa quên cả ta là ai
Còn hơn lúc tỉnh nhớ mà mệt ...
ƯU THIÊN - BÙI KỶ
Sau khi 2 tờ báo Đông Tây và Thời báo bị rút giấy phép, một hôm vào khoảng 11 giờ sáng, ông rẽ vào nhà báo ở phố Nhà Thờ. Thấy chúng tôi đang thu dọn thư tịch, liền lấy giấy bút , viết mấy câu :
Đem bút mực mài viên khối lỗi
Tìm sách đèn gỡ mối giang san
Đố ai trộm được chữ nhàn
Ra ngoài hình dịch, là làng thanh tao.
ƯU THIÊN- BÙI KỶ.
Tôi thưa :
- Ra ngoài hình dịch * đâu phải dễ ạ! Nêu dễ, ông Đào [ Tiềm] đã không buồn cái cảnh đem tâm làm nô lệ cho đời sống của thân hình. Bây giờ đem thân hình phục vụ cho tâm, nên mới thế này đây! Đóng cửa hết báo này đến báo khác.
Ông cười, bảo :
-Thì cũng cứ bướng bỉnh làm theo lòng mình, mới là chơi chứ ...
-Vậy thì, lúc này cũng đã tới giờ. Chúng tôi mời ông đi làm một chầu chả cá ! Cho xứng tâm, mà thân hình cũng thoải mái một bữa ...
Thế rồi cuộc đời xoay chiều, quả dưa bổ đôi, chúng tôi vào Nam, ông kẹt lại.
Đến 1960, nghe tin ông từ trần, tôi kính cẩn mấy vần gởi tới bàn thờ vọng :
Chợt nghe tin điên báo thình lình
Lo xập, thôi ông hết bận mình
Những lúc hàm ca hằng tưởng nhớ
Mấy lời ký-chú vẫn đinh ninh
Đàn thơ còn thoảng hương kỳ dật
Đài giảng chưa quên tiếng lão thành
Ngàn dặm từ đây ngăn cách hẳn
Nghẹn ngào giọt lệ khóc tiên sinh ...
.LÃNG NHÂN-PHÙNG TẤT ĐẮC
DƯỚNG BÁ TRẠC
Năm 1930, khi làm báo ở Hànội,sáng sáng chúng tôi thường lui tới nhà in Trung Bắc ở phồ hàng Bông để coi lên khuôn trang báo, phong hờ cần viết thêm hay xóa bớt nơi cột báo có chổ thừa hay thiếu.
Nơi văn phòng ấn quán, thỉnh thoảng chúng tôi thấy sự hiện diện của một vài vị bỉnh bút của tòa soạn Trung Bắc: cụ bảng Hoàng hay cụ cử Dương [ bá Trạc ] . Chúng tôi cúi chào cho phải phép, rồi rẽ sang bên sắp chữ, chứ không đứng lại thưa, gửi. Các cụ 20 năm trước đã khởi xướng phong trao Đông kinh nghĩa thục chống Pháp. Cụ Bảng thoát được lo tù, cụ cử từng mấy năm Côn đảo, ai chẳng 1 lòng tôn kính. Sở dĩ có sự kính nhi viễn chi, là vì các đã theo chính sách Pháp Viêt đề huề , do báo Nam phong và Trung Bắc đề xướng , chính sách mà ngày nay, chúng ta gọi là chiêu hồi.
Thập niên 20 vừa qua đã được đánh dấu bằng bản án Phan bội Châu ( 1924), đám tang Phan chu Trinh
( 1926) và vụ chém Nguyễn thái Học ( 1930). Mối xúc động đang âm ỉ trong lòng nhân dân, vậy àm cụ bảng viết xã luận chỉ khuyên bỏ hủ tục đốt vàng mã - cụ cử [ Dương bá Trạc] thì hô hào công dân giáo dục bằng những khẩu hiệu vang vang mà không chút thiết thực, làm sao lôi cuốn được ai ?
***
Sau khi thất bại trong nghề báo chí, tôi quay về nhàn cư ở Nam định. Đến 1937, nhân vụ bầu cử viện Dân biểu, tôi mới có dịp hội diện cùng cụ cử Dương [ bá Trạc] , khi cụ cổ động cho ông Phạm huy Lục.
Giữa 2 người tranh cử, ai chẳng bầu cho người có ăn học, chứ ai đầu phiếu cho ông lái pháo ! Cụ cử [Trạc ] khỏi cần du thuyết, ông Lục cũng thắng. Vậy mà rồi ông pháo[ Phạm lê Bổng] đoạt giải, hơn ông Luc một phiếu.
Trong lúc tửu hậu trà dư, cụ cử tặc lưỡi về tình đời đen bạc, kẻ hậu sinh này tìm hiểu tâm sự bậc đàn anh, mà bấy lâu mình đã nghĩ lầm, qua lối hành văn khoa trương ( hyperbole) nhưng ba tấc lưỡi mà gươm mà súng , một ngòi lông mà trống mà chiêng : thời làm cách mạng, cụ lấy tên là Dương Thiếu Niên, mong thổi một luồng gió kiêu hùng vào lớp trẻ; nhưng rồi thất bại liên tiếp, buộc phải ngậm ngùi mà hòa dịu với đời.
Bây giờ đêm đã khuya , khách đã vắng, cụ viết tặng 1 bài :
Gặp nhau trên giấy tự bao ngày
Mừng mặt bây giờ mới bắt tay
Cao ngất hào tinh muôn trượng núi
Bay tung văn tứ chín từng mây
Giang sơn Lô Tản đồng tâm mấy?
Nhân vật Côi Hoàng cự phách đây !
Nhiệt huyết kiếm đâu đài múa vảy
Nghị trường, vai ấy cũng hay hay ...
DƯƠNG BÁ TRẠC
Tôi đứng lên cảm tạ thịnh tình, nhưng xin chỉ lĩnh 2 câu đầu và 2 câu cuối, còn 4 câu giữa không dám nhận vì không xứng đáng ...
Cụ cười phá lên:
-... mấy ông ( báo) Phong hóa thường giễu tôi : văn kêu như vỏ thùng rỗng. Có kêu mới có tiếng
vang , còn nghe hay không thì tùy, miễn là kêu lên để khích lệ. Tôi kể ông nghe câu chuyện Trạc nhé : ông nhớ ông giáo Nghi chứ !
- Vâng, khi trước ông dạy ở trường Bờ sông, có tiếng là ăn khỏe, uống khỏe hơn người, lại có tài hùng biện ...
-Đúng thế . Nhưng đặc điểm của ông là ít khi chịu chi tiền, nên người ta thường giễu là tướng Trạc. Trạc là tiếng trong làng cờ bạc, có nghĩa là chịu, không trả tiền ngay, thiếu lại, do chữ trái, đọc theo tiếng Quảng đông.
Thì, một hôm, ở dưới xóm, ông giáo Nghi đang trổ tài hùng biện, thao thao bất tuyệt, mấy ông bạn ghé tai tôi - vì tôi cũng dự trong bữa ấy - yêu cầu làm bài hát nói để cô đào Mộng Hoàn tặng ông tướng Trạc. Tôi viết đùa :
Trong thiên hạ ai bằng thằng Trạc?
Sinh ra đời chỉ trạc đời chơi!
Chẳng trạc danh trạc lợi như ai
Mà cao đạo hơn người, là chỉ trạc...
May trạc được, chẳng khoe khoang vì được
Rủi trạc thua, không tức bực vì thua
Được hay thua cũng chỉ trò đùa
Trên sân khấu đóng vài trò tướng Trạc
Trạc cho non phải chuyển, cho biển phải đầy,
cho cuốn gió tung mây, cho chọc trời quất nước
Trạc xong rồi mà tâm tính vẫn như-như
bảo ông thằng Trạc, ông ừ ...
DƯƠNG BÁ TRẠC
- Cử tọa vỗ tay cười to hơn cả là ông giáo Nghi. Nhưng hả hê nhất thì là tôi , vì giải được tâm tình. Ông xem đấy, quấy nước chọc trời, chẳng có lúc đấy ư ? Thì bây giờ cũng thế này đây có sao đâu. Ộng đừng quan tâm về muôn trượng núi, chín từng mây, miễn là giữ được máu nóng đem vảy nơi vũ đài ...
Tôi dạ dạ, vâng vâng, khi từ về không dám đưa bài thơ cho ai xem. Nhưng từ đấy cụ Dương [ bà Trạc] trở thành bạn vong niên của tôi và mỗi lần có dịp xuống Nam [ định ] , thế nào cũng ghé qua tệ xá, câu đầu tiên khi để chiếc ô nép vào tường , là :' Tắm cái đã!'. Rồi cụ giải thích:
- Chả là khi trước đi cách mạng, anh em bảo nhau : ' phải tập ở bẩn cho quen để chuẩn bị lúc vào tù, khỏi thấy khó chịu vì ngứa ngáy . Bấy giờ thì trái lại, phải tập ở cho sạch, cho cái bẩn khỏi vương mình nữa. Cho nên' tắm cái đã ' là đầu câu chuyện chúng mình với nhau ' .
***
Thế rồi, thời thế đảo điên, khác hẳn dự đoán của mọi người. Người Nhật đề xướng lịch trình Đại Đông Á làm mưa làm gió từ nam ra bắc, người Pháp nép mình cầu hòa.
Một hôm, tôi đến phố Sinh Từ * thăm cụ cử [ Dương bá Trạc] đã được người Nhật đem đi Chiêu Nam
( Singapore) dự trù lập ở đó một nhóm chính khách Việtnam cầm đầu một cuộc đảo chính.
Ở bên đó vài năm, không ngờ cụ nhuốm bệnh, rồ tạ thế vào ngày 10- 12- 1944. Nhà đương cục Nhật cho hỏa thiêu, rồi gởi tro về Sài Gòn. Song ở đây, không có ai nhận. Sau Nhật phải đưa ra Hànội, trao cho ông em cụ là giáo sư Dương quảng Hàm ..
Máu nóng vảy trên vũ đài - ở Singapore -chắc rằng ở cõi suối làng mây, cụ bao giờ cũng vẫn tâm tình như thế !
-----
* nay là phố Nguyễn Khuyến, Hànội. (BT)
( sđd : trang 88 - 95 )
lãng nhân
---
* Đào Tiềm: Qui khứ lai - lý tự dĩ tâm vi hình dịch ... ( LN chú thích ).
Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013
tháng hai buồn đọc lại lỗ tấn / hoàng vũ đông sơn - 5
tháng hai buồn đọc lại lỗ tấn :
bún thang từ thức chất đến huyền thoại
hoàng vũ đông sơn
Mỗi khi gia đình sum họp để tiễn một người đi hay dón một người về, người miền bắc có thói quen tổ chức một bữa bún thang. Nếu cuộc chia tay hay trùng phúng đó lại rơi vào mùa đông sớm nhất là chớm thu có những chiếc lá vàng rơi lả tả xuống sân vườn cho gió cuốn đi để đối cảnh sinh tình : Trận gió thu phong rụng lá vàng / Lá rơi tường Bắc lá rơi sang thì món bún thang càng tuyệt.
Lá vàng rơi là định luật của trời. Lá vàng có rơi nhiều thì chồi non lộc biếc mới có chổ có nơi để phát triển mạnh mẽ cho cây sớm lên đại thụ. Người xưa bảo không sai : Thu liễu, Đông tàng, Xuân sinh, Hạ trưởng . Trong cái chu lưu bất tuyệt, bất biến hàng năm đó, bát bún thang nóng hổi nghi ngút toa hương trước thu phong, trước đông phong sao mà tuyệt vời, sao mà ấm cúng đến thế. . cái ấm cúng củ gia đình làm ấm lòng người đi, an lòng người ở để chờ người lữ thứ sớm quay về.
Bún thang lá món ăn cầu kỳ, mất nhiều thì giờ để chuẩn bị và thực hiện. Chỉ có những người mẹ hiền, người đảm mới dám lý tới món bún tháng. Làm sao để bát bún thang mang đủ dáng vẻ thanh-nhã-đạm của miền bắc. Trong bát bún thang gói trọn cả tình quê hương đất nước, tình cha mẹ, vợ con., em, cháu...
và ngũ hành hoá sinh sinh tạo nên khí vị: hương gấy mùi nhớ.
Nhưng bún thang có ở cái nôi dân tộc ta từ bao giờ ? Người miền bắc ai cũng đều cảm nhận được cái hương vị đậm đà ngọt ngào thanh cảnh đó. Mà bắt giải thích theo kiểu tầm nguyên thì thật là khó . Nếu như có người ngoại quốc nào chịu ăn chịu chơi, sau khi thưởng thức, rồi nêu thắc mắc :
" Bún thang là gỉ ?"
"Tại sao lại gọi là Bún thang ?"
Người việt ta, trừ cụ Ấm Hiếu, khó mà lý giải vắn tắt cho họ thông ngay được. Vì ở 2 cuốn từ điển cổ như Đại Nam quốc âm tự vị/ Huỳnh tịnh Của và kim như Việtnam tự điển / Khai trí tiến đức đều tách ra từng tự để thích nghĩa.
trong Đại nam quốc âm tự vị / Huỳnh tịnh Của :
" Bún: bôt sợi, bột làm ra sợi ( tr. 77
" Thang: nước nóng ( tr. 367)
và Việtnam tự điện / Khai trí tiến đức :
" Bún: bột gạo làm thành từng sợi ( tr. 60)
" Thang : nước nóng ( tr. 550)
cũng ở trang 550 này, Việtnam tự điển ghi thêm : " Món ăn bằng bún chan nước, dùng nước nóng, mùa rét ăn thang".
Các cụ thi nhau soạn tự điển để chú giải những điều thiên cao địa viễn, nhưng với bún thang, món ăn chân quí của người mình - các cụ lại vắn tắt quá. Ý hẳn các cụ cho rằng : " miếng ăn là miếng tồi tàn" mà không thèm lý tới một cách triệt để.
Để tìm cội nguồn bún thang ở các sách nữ công gia chánh, dĩ nhiên chì là công cốc. Còn về thể cách thực hiện và trính bày bát bún tháng của các nhà , thì mỗi người bàn một cách.
Đi kiếm tìm ở ngoài mãi cũng chẳng đâu vào đâu, giống như cảnh: đi chơi cho biết Đồ sơn - cuối cùng đành phải trở về nhà để hỏi nhà mình vậy. Bụt chùa nhà không thiêng, nhưng ngặt quá.!
Vấn nạn về bún thang được các đấng hậu duễ của Cao quốc tổ mẫu Âu Cơ , không riêng gì bàn dân thiên hạ mà kể cả vợ con , em, cháu trong nhà , cũng đều không ứng cách thích nghĩa của 2 bộ tự điển trên. Rồi họ cũng lâm vào cảnh lúng túng: " sư cãi sư phải vãi cãi vãi hay " , nhưng bún thang vẫn hoàn
bún thang. Bún thang là một thực thể. Dù bún là chính hay thang là chính cũng không thể gọi là
Bún thang, nếu không có gà, có trứng, có thịt heo ...
Vấn đề ngữ nghĩa của từ của tự đã chẳng thành vấn đề , khi thật mục sở thị những người yêu thương mình xé nhỏ từng miếng thịt gà, thái nhỏ từng miếng thịt thăn heo ( lợn) , miếng trứng rán và nhiều thứ nũ ra thành sợi chỉ. Vất vả từ chợ búa về đến bếp núc khói lửa mịt mù, thế mà họ vẫn tươi rói, vẫn trịnh trọng đặt lên trước mặt ta lần lượt những tô tráng men tinh khiết chất chứa báo tình thương nỗi nhớ ...
Khi ăn bún thang, thực khách có thể ngồi tại chỗ, ngồi dưới đất, trên giường, trải chiếu hay trên bàn ghế kiểu tây phương. Người phục vụ dâng hiến đến gần... mồm từ tí hạt tiêu, tí mắm tôm xanh, giọt cà-cuống ... chỉ khổ cho những ai không quen ăn nóng, mà ăn bún thang phải ăn thật nóng mới ngon, mới thú vị
.
Khác với phở là món ăn tại cửa hàng cửa hiệu - ăn phở còn ăn cả cái không khí phở cùng người hàng xứ. Bún thang là món ăn tại gia. Ăn bao nhiêu cũng được ... Vấn đề là chỗ tùy theo nền kinh tế tài chính gia đình và tùy theo sức chứa của cái bụng. Người nào thích , có thể ăn thêm rau ghém. Nhưng chỉ với loại rau duy nhất là rau diếp thái thật nhỏ như sợi thuốc lào, thuốc lá. Lẫn lộn bất kỳ loại rau nào vào bát bún thang sẽ lạc vị, mất hết cả cái ngon.
Bún thang bây giờ đã vượt khỏi ngưỡng cửa các gia đình việt, đã chu du đi khắp dông nam đoài bắc, đã vượt cả biên cương để có mặt ở khắp nơi có người việt gốc bắc cư ngụ. Bún thang ở ngay đất Sài Gòn đã phổ thông đến độ ngang tầm với bún riêu, bún ôc, canh bún. Người ta ăn bún thang hay món ăn gọi là bún thang với tất cả tương đỏ, tương đen, với cả rau muống chẻ ,bắp chuối, giá sống, húng quế, rau răm, rau ngổ.
Ít khi nhà hàng chủ quán thấy khách gào cà-cuống. Hoặc , chủ nhà hàng không có, mà có thì quá đắt, đắt hơn cả ngày xưa, như câu ví von: đắt như thuốc đau mắt của bà lang Trọc nên khách không thèm xài; hoặc không biết xài, vì chẳng biết cà-cuống là cái quái quỉ gì .(...) * Bún thang cũng nổi trôi theo mệnh nhà, vận nước,
----
* (...) BT xin lỗi tác giả, lược bỏ 49 chữ nói về ; " cái bánh Trôi mà nữ sĩ HHT " mục sở thực...".
***
Bún thang cũng không có huyền sử đẹp như bánh Giầy, bánh Chưng hay như bánh Trôi , với 49 chiếc để trên mẹt, trên bè thả trôi sông biển, tượng trưng cho 49 hoàng tử mà đức Cao tổ quốc tổ phụ Lạc Long quân phái đi chinh phục những miền đất lạ. Bún thang có huyền thoại xâu xấu về món ăn có liên quan mật thiết đến thịt gà được truyền tụng ở quê tôi, vùng Đông triều. Huyền thoại này nghe nói, do một đấng hậu duệ nhà Mạc, chắc là con cháu Tráng vương Mạc kinh Chương. Sau khi vở Tổ ở đất Cao Bằng, người họ Mạc muốn sống, phải thay tên, đổi họ, bị chỉ định cư trú theo lệnh của chúa Trịnh. Ai không chấp hành thì lang bạt, tự đổi họ, thay tên. Mà mối thù sát tộc với họ Trịnh thì khôn nguôi.
Chuyện được lưu truyền ở quê tôi đã khá lâu; nhưng lại là chuyện liên quan đến những nhân vật kiệt hiệt của lịch sử ở một thời nhiễu nhương lắm phe, nhiều nhóm tranh Bá đồ Vương. Những chuyện quái dị ỡ dãy núi Đông triều quê tôi là vùng bán sơn địa vốn không kiếm. Nửa thế kỷ qua đi, tôi chưa có dịp về thăm, nhưng vẫn nhớ lỗ mỗ, rằng :
"... ông Trịnh Kiểm khi còn hàn vi , tức là trước khi trúng tuyển làm nài ngựa cho ông Nguyễn Kim tính tình phóng đãng, nhà nghèo lại thích ăn ngon, mẹ con ông toàn xơi thịt gà do ông vồ của bàn dân thiên hạ.
Khi đắc thế, quyền uy ông lệch đất nghiêng trời, trên ông hiếp vua, dưới thịt em vợ một cách ngang nhiên , cũng chẳng ai dám ì xèo nửa lời. Miếng ngon vật lạ của cả xứ Bắc kỳ, nếu ông thích, sẽ vào mõm ông hết. Nhưng ông lại chi thích món Bún gà. Tụi đầu bếp Thanh, Nghệ dâng mãi, ăn mãi; ông cũng chán miệng. Ông hạ lệnh cho tụi đầu bếp Thăng Long chế tác thử nghiệm. Có một Bảng nhãn là chuyên gia đón gió vào hàng đệ nhất lưu đã hiểu ý siêu đại nhân, bèn tiểu di cho tụi đàn em đầu bếp dâng lên Chúa một món Bún gà, nhưng được ông đặt cho mỹ từ là Bún Thăng. Ông cũng chuẩn bị cả lời khải tấu với Chúa, là : " Theo Dịch học và những lý giải trong các cổ thư, thì ' Trong mỗi bát Bún Thăng dâng lên Chúa ngự dụng có cả Thiên Huyền Địa Hoàng , có âm dương ngũ hành... Chúa mà ngự hàng ngày sẽ Thọ tỷ Nam san, tràng trị vũ lâm, nhất thống giang hồ. Vì Chúa là Thần nhân Thánh triết, nên sẵn có Văn thành Võ đức, bây giờ thêm cả Thiên Địa quy nạp vào bụng Chúa, Chúa sẽ điều lý âm dương tuyệt vời, sẽ vô tiền khoáng hậu ..."
Thọ tỷ Nam san: Không - vì Chúa là người nên cũng phải tịch.
Tràng trị vũ lâm: Không - vì trên Chúa con có vua Lê, dù là hư vị, nhưng vẫn là một thực tại.
Nhất thống giang hồ : lại cũng Không - vì mặt tây bắc vẫn còn các chi họ Mạc, hở ra là giành dân chiếm đất, mặt đông nam, có ông Nguyễn Hoàng lăm le kéo quân ra đòi lại cương vị. Dân đói khổ kháp chợ cùng quê, giặc cướp thì ban đêm , các cậu lính Tam phủ thì ban ngày. Muốn truyền tử lưu tôn ở ngôi vị Chúa, phải nhớ lời phán bảo của một người đã dâng sớ hạch tội 18 tên lộng thần của triều đình nhà Mạc. Người ấy đã coi hôn quân hôn chúa và quan lại tham ô như giặc cướp, lấy uy quyền dọa nạt và lợi dụng câu nhử cũng không xong. Sai quan lớn có chức danh đem quà đến biếu dù là nhân danh Chúa , người ấy vẫn khước từ. Đem lời mật hỏi cũng không được giải đáp một cách chính thức mà chỉ nói với tiểu đồng, rằng : Giữ chùa thợ Phật thì ăn oản . Ngẫm nghĩ mãi lời nói ấy: Thượng phu, Thượng tướng Thái quốc Công thấy rằng món Bún Thăng đúng là linh thực. Thần thực Phúc thực, Hỷ thực- vì từ khi xơi Bún Thăng, quả nhiên là thăng thật, cứ như y là được lộc của trời, nên đã ngồi cả lên đầu Vua tới 216 năm mơi là ngon lành.
Chuyện còn kể rằng :
" ...anh chàng dịch nha An Nam hơn hẳn anh chàng dịch nha bên Tàu nhiều thứ : Một là, không phải làm thịt con đẻ của mình để xé nhỏ tống vào bát Bún Thăng mà vẫn thăng quan tiến chức. Hai là, có học nên khéo đón ý Vương thượng. Phe bên phủ Liêu thì cá mè như nhau. Phe bên cung Vua đàng hoàng, đúng đắn đấy, nhưng lại rét vì Chúa không ưa, sợ nói ra đưa lại ... Ba là, cấu kết với tên yêm hoạn Phan huy Đỉnh trấn áp trong ngoài để hắn lam Tham tụng ( Tể tướng), còn ngài ' Dịch nha An Nam, đó là Bồi tụng ( phó Tể tướng - như phó Thủ tướng ngày nay )... Sách Việtnam thông giám đã ghi như thế ..."
Món ăn , ăn vào đại phát tài, thế tập làm vương, ai mà chả mong chả thích, nên người Bắc hà ngày ấy thi nhau làm Bún Thăng, thi nhau ăn Bún Thăng để chóng được thăng quan tiến chức , không có viễn kiến gì thì ăn để lấy khước.
Dư luận dân gian đường phố đến tai nhà Chúa do quý vị Lính Tam phủ đưa vào. Chúa phán quở
rằng:
" Tụi dân Bắc Kỳ , mi xược quá! Cũng muốn thăng như ta sao? Giỏi lắm, khéo lắm, ngon lắm, ta cũng chỉ cho làm bồi tụng hầu hạ trong phủ Liêu như Lê quí Đôn. Đó là nấc thang ta cất nhắc cho kẻ trung thành. Đừng láo !"
Từ đó, ngoài phủ Chúa, không ai dám gọi là Bún Thăng mà phải biến âm đi. Không kỵ húy nhưng vẫn dứt khoát phải đổi, phải gọi trại đi. đọc trệch ra là Bún Thang. Vần quốc ngữ bây giờ chỉ phải bỏ đi
dấu á, để ngoài ý nghĩa là nấc thang, trèo thang lại còn nghĩa la lang thang khắp chợ cùng quê cho đẹp lòng Chúa, cho đỡ ngứa tai gai mắt các thừa sai của Chúa [ Trịnh ]
Đã gọi huyền thoại , có nghĩa là rất xa với sự thực. Một loại tuyên truyền đen để tự đánh bóng mình và bôi nhọ đối thù. Có thể cái ông hậu duệ nhà Mạc, vì mối thù sát tộc - không hay chưa rửa được - đã đơm đặt ra , đưa vào sách Nam Hải dị nhân liệt truyện để phịa thêm ra. . Chuyện đúng hay sai, tôi chẳng dám lạm bàn; chỉ biết chắc chắn Bún Thang là một hiện thực.
***
Thỉnh thoảng :
Trông mâ y Bắc tái buồn ghê
Về ư - Chẳng được vẫn tái tê lòng
Nhớ nhà thắp một tuần nhang
Quan san đèo Cả, đèo Ngang mấy từng
TÂM SỰ HOÀNG VŨ ĐÔNG SƠN
Có thân trích bóng ghé vào hàng quán bên đường tìm lại chút hương xưa, khó mà ăn được bát thứ 2. Thế mới biết cái món Bún Thang lại quá là diệu vợi. Muốn ấm chân răng một cách triệt để thì các cụ ông phải nhờ đức các cụ bà, các đàn anh, phải phiền tới đôi tay dịu hiền của các đàn chị.
Dấng danh sĩ nào đã sản xuất ra bài thơ có 2 câu hay đáo để:
Đi chơi cho biết Đồ Sơn
Trở về mới biết chẳng hơn Đồ Nhà
Bún Thang phải ăn tại nhà mới ngon. Ăn tại nhà tức là ăn cả cái không khí gia đình, cả cảnh đoàn viên, sau một thời đi hoang:
Vắng bè bạn có vợ con
Xa xôi xã hội vuông tròn quốc gia
TẢN ĐÀ
Cảnh ấm cúng là cả gia đình quần tụ cùng bưng bát Bún Thang, cùng nhau múa đũa, cùng nhau xì xụp:
Khi vui câu chuyện thêm giòn
Chẳng chồng thì vỡ vợ con con một nhà
???
Bún Thang là món ăn cầu kỳ , mất nhiều công lênh. Ai là khách được mời ăn Bún Thang, phải tự biết mình đã lọt vào mắt xanh gia chủ, đã có một quá trình tương giao, có độ dày tình thân và được tôn quí. Vì thường thì nón Bún Thang lại do chính bà chủ nhà vừa là trưởng ban tổ chức, vừa là bếp trưởng và các em gái đều là bếp viên , phục vụ viên, nên không thể có tạp khách trong bữa Bún Thang ở các gia đình người miền bắc...
Chẳng biết Bún Thang có được liệt vào hàng cao lương mỹ vị hay không và nếu là cao lương mỹ vị , thì cũng là miếng ăn. Mà miếng ăn là miếng tồi tàn . Ngạn ngữ dạy như thế để khuyên người ta chớ tham lam, quơ quào để rồi nhục đến tông môn. Về thực chất, nó tồi tàn thật sau vài giờ hay một ngày.
Ăn Bún Thang tại nhà không chỉ la thưởng thức một món ăn mà còn là thưởng ngoạn một công trình. Chỉ có cụ Tản Đà là thiết cận nhân tình, nên Người đã dạy cho những người có tâm hồn ăn uống, phải nhớ :
Đồ ăn ngon
Chỗ ngồi ăn ngon
Người cùng ăn ngon
Ngon !
TẢN ĐÀ
Mong rằng dân mỗi ngày mỗi giàu, nước mỗi ngày một khà, để tất cả mọi gia đình Việtnam đều coi món Bún Thang là món ăn thường. [']
( kỳ sau : buồn vui qua những năm thìn )
hoàng vũ đông sơn
BÌNH QUỚI TÂY 29- 1- 1996
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)